Việt Nam ‘tham nhũng hơn Trung Quốc’

September 24, 2008
Hình minh họa
Tham nhũng được đánh giá là thách thức ở châu Á

Bảng đánh giá mức độ tham nhũng mới nhất của tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Việt Nam đứng thứ 121 / 180, thứ hạng gần như không đổi so với năm 2007.

Tại châu Á, Chỉ số Nhận thức Tham nhũng 2008 đánh giá 32 nước, và Việt Nam xếp thứ 20, với 2.7 điểm.

Trung Quốc đại lục xếp thứ 12 trong vùng, và đứng thứ 72 trên toàn cầu, với 3.6 điểm.

Anh quốc xếp thứ 16, trong khi Hoa Kỳ xếp thứ 18 ngang với Nhật.

Đánh giá

Năm nay ba nước – Đan Mạch, New Zealand và Thụy Điển – cùng xếp thứ nhất, với 9.3 điểm.

Trong nhóm Top 10, Singapore xếp thứ tư, tiếp theo là Phần Lan, Thụy Sĩ, Iceland, Hà Lan, Úc, Canada và Luxembourg.

10 nước xếp đầu châu Á
New Zealand
Singapore
Australia
Hong Kong
Nhật Bản
Đài Loan
Nam Hàn
Macao
Bhutan
Malaysia

Chỉ số năm ngoái, đánh giá 179 quốc gia, xếp Việt Nam đứng thứ 123, với 2.6 điểm.

Tính theo thời gian, điều tra mức độ tham nhũng của quan chức dưới dạng chỉ số nhận thức tham nhũng này đã đặt Việt Nam cao hơn một chút.

Năm 2005, Việt Nam chỉ đạt 2.4 điểm, sau đó tăng 0.2 điểm (2.6) vào năm 2006.

Nói chung về châu Á, Minh bạch Quốc tế năm nay ghi nhận trong 32 quốc gia, có tới 22 nước bị điểm dưới 5.

Nam Hàn và Tonga có điểm cao hơn hẳn so với năm trước, chứng tỏ giới chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng đã có cải thiện trong hành vi của viên chức.

Nhưng Hong Kong, Macao, Maldvies và Timor lại bị đánh giá thấp hơn trước.

Năm nước xếp chót tại châu Á là Lào, Papua New Guinea, Campuchia, Afghanistan và Miến Điện.

Miến Điện cũng bị xếp áp chót trên tổng số 180 quốc gia, chỉ trên Somalia.

Minh bạch Quốc tế, có trụ sở ở Berlin, ghi nhận trong số các nước giảm điểm đáng kể so với 2007 có Bulgaria, Burundi, Phần Lan, Pháp, Italy, Macao, Maldvies, Na Uy, Bồ Đào Nha, Somalia, Timor và Anh quốc.

Chỉ số thường niên này tập trung vào tham nhũng trong khu vực công và định nghĩa tham nhũng là sự lạm dụng quyền chức để tư lợi.

  • Theo BBC

Cho tôi xin một … chút “sự thật”

September 24, 2008

Có một dòng dư luận khác đang nói lên những suy nghĩ của mình. Tôi xin trích đăng để những ai quan tâm thao khảo thêm!

—-

Mấy hôm nay, trên diễn đàn báo điện tử, tôi thấy mọi người hay nhắc tới “sự thật”. Và tôi tự hỏi, sự thật là gì vậy nhỉ, và tôi đã được thấy sự thật bao giờ chưa qua những sự việc diễn ra hàng ngày trong cuộc sống ?

Sự thật không phải là thứ quý và hiếm như kim cương, nhưng cũng không rẻ bèo như nước sông hồ, tuy nhiên thiếu sự thật, con tim ta sẽ chết, con tim đúng nghĩa không thể sống trong gian trá và lừa lọc được.

Vậy thì quanh tôi thực sự có sự thật hay không? Bạn đọc nào có sự thật cho tôi xin một chút với, hoặc chí ít cũng chỉ giúp cho tôi sự thật nằm ở đâu ?

* Số là ở quê tôi có một con đường lớn, tên gọi là đại lộ Đông Tây, vì nó chạy từ đàng Đông qua đàng Tây. Con đường này thi công ngót ngét cũng gần chục năm rồi, do Nhật cho vay tiền để làm. Mấy bữa rày, tin tức từ nước Nhật báo về, Chính phủ nước họ đã truy tố và bắt giam 4 quan chức của một công ty tư vấn do đã có hành vi đưa hối lộ cho các quan chức Việt Nam để được trúng thầu tư vấn cho công trình làm đường này, số tiền hối lộ lên tới 800.000 đôla mỹ (tương đương khoảng 14 tỷ đồng tiền VN). Theo thiển nghĩ, một đất nước văn minh khi bắt giam ai thì phải có chứng cứ chắc chắn. Và đương nhiên có người đưa thì phải có người nhận, chứ không lẽ các quan chức nọ lại đem tiền qua VN để giúp đỡ cho người nghèo.

Lạ thay ở Việt Nam, một quan chức thứ trưởng Bộ Ngoại giao lại phát biểu trước công chúng : Tại VN, mọi công việc đều tiến hành đúng quy định (hiểu ngầm là không có người nhận hối lộ), và còn nhắc nhở báo chí Nhật phải đưa tin cho cẩn trọng. Và làng báo chí VN cũng chẳng mặn mà gì mà nhảy vào cuộc trước những tin tức thiếu cẩn trọng kia từ phiá Nhật.


Vậy thì sự thật nằm ở đâu, các bạn chỉ cho tôi với !

Và rồi đến nay, Chính phủ VN vẫn chưa điều tra ra được có quan chức VN nào nhận số tiền không lồ kia hay không. Chắc là không rồi, vì sự việc đã rành rành như vậy rồi, nếu có quan chức nào nhận hối lộ thì sẽ thấy liền, đàng này điều tra quá chừng mà không thấy. Thật là nước Nhật rắc rối, đã đem tiền qua cho VN vay lại còn đòi điều tra quan chức VN nhận hối lộ nữa.

Sự thật ơi, mi ở đâu ?

* Rồi việc nhà báo nước ngoài bị đánh chảy máu đầu mà phát ngôn viên của VN quả quyết không có chuyện đó. Vậy bức hình trên mạng cho thấy máu chảy ra sau cổ của anh chàng nhà báo kia là gì vậy ? Chẳng lẽ người đại diện cho Chính phủ VN lại nói sai ?

Sự thật ơi, mi ở đâu ?

* Rồi việc phong toả Toà Khâm sứ để thi công xây dựng công viên. Chính phát ngôn viên của UBND TP Hà Nội tuyên bố là hoàn toàn không có phong toả, mà chỉ có phân luồng giao thông. Phân luồng giao thông bằng hàng rào sắt và kẽm gai ? Vậy ai là người nói sai ?

Sự thật ơi, mi ở đâu ?

* Rồi sáng nay tin tức đồng loạt ở các báo đăng công văn của ông CT UBND TP Hà Nội cảnh cáo ông Kiệt, tổng Giám Mục Hà Nội vì đã có phát ngôn từ “nhục nhã”, làm tổn thương lòng yêu nước của người VN.
Lập tức mở mạng lên xem diễn đàn thì ô hay, lời phát biểu kia là quá tuyệt vời rồi, làm sao để VN được sánh vai ngang bằng với Nhật, Hàn Quốc là điều mà ai chẳng mong muốn nếu là một người VN chân chính ?

Vậy mà chẳng lẽ toàn bộ bộ máy tuyên truyền của Chính phủ lại không nhận ra được ý tứ của ông Kiệt trong câu nói ấy hay sao mà lại đồng loạt lên tiếng chỉ trích ? Chẳng lẽ không còn dù chỉ một người nhận ra hay sao ?

Sự thật ơi, mi ở đâu ?

* Rồi cũng sáng nay, trên mạng đầy dẫy những hình ảnh manh động đập phá nhà tu, nhà thờ, mà sao không thấy CS cơ động, CS chống bạo động và chó nghiệp vụ đâu cả vậy ? Tại sao không có khởi tố như đã khởi tố một số người manh động phá bức tường trị giá 3.700.000 đ của Cty Chiến Thắng ?

Rồi đồng loạt các báo của Chính Phủ không thấy đưa tin này như đã đưa tin UBND TP Hà Nội cảnh cáo ông Kiệt nhỉ ?

Đấy. Tôi mới chỉ nêu ra có vài sự việc nhỏ ấy thôi mà đã thấy tìm kiếm sự thật khó khăn như thế nào rồi.

Nhiều lúc tôi tự hỏi, sống trong xã hội văn minh ngày nay, sự thật quý hiếm đến như vậy sao ? Chính vì quý hiếm như vậy nên nhiều người luôn muốn giấu đi sự thật, không dám nói lên sự thật. Thậm chí trốn tránh sự thật, không dám đối mặt với sự thật. Và làm như vậy là người ta đã giết chết sự thật.

Một khi đã không có sự thật để sử dụng, để nói, thì người ta phải nói dối, phải lấy sự gian trá thủ đoạn để đối xử với nhau, và một khi đã dùng thứ đó để đối xử với nhau thì người ta không còn là CON NGƯỜI nữa rồi.

Nhưng vì bản chất của sự thật lại là ánh sáng, là chân lý, nó phải được toả sáng cho tất cả mọi người cùng hưởng. Một xã hội trong sạch cần phải có được sự thật, cần phải được bầu không khí sự thật nuôi dưỡng, như cơ thể sống con người cần có bầu không khí trong lành để thở.

Chính vì vậy, tôi thiết nghĩ mọi người hãy cùng nhau phát động phong trào đi tìm sự thật. Tất cả mọi người hãy cùng nhau mạnh dạn nói lên sự thật, bênh vực sự thật, làm chứng cho sự thật. Tất cả mọi người hãy cùng nhau chung tay góp sức diệt trừ gian trá thủ đoạn, tạo ra một môi trường lành mạnh cho sự thật đơm hoa kết trái.

Có như vậy, cơ thể sống Việt Nam của chúng ta mới có đủ sức mạnh cường tráng để vươn vai sánh ngang bằng với các nước trên thế giới.

  • viet_tuonglai

Tổng giám mục nợ đồng bào một lời xin lỗi

September 24, 2008
TGM Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt, dâng thánh lễ cầu nguyện cho giáo phận Bắc Ninh, ngày 1/10/2006
Một câu nói của vị Tổng giám mục giáo phận Hà Nội, đức cha Ngô Quang Kiệt, gây phản cảm đối với nhiều đồng bào Việt Nam. Đức cha nợ một lời xin lỗi.

Sáng ngày 20/9, trong buổi gặp giữa Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt có một câu nói: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế” (Trích từ website của Hội đồng Giám mục Việt Nam ngày, 22/9).

Câu này đặt trong ngữ cảnh, hiểu hai cách: hoặc là, đức Tổng giám mục cảm thấy nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài hoặc ông Kiệt nói trên tinh thần xây dựng, mong Việt Nam mạnh lên, để không bị người ta khinh rẻ.

Nhưng dù dụng ý đức Tổng giám mục là gì, câu nói trên đã gây phản cảm trong bộ phận lớn dân chúng nước ta mấy ngày qua. Đức cha dù khéo tạo ra một ngữ cảnh để ai hiểu thế nào cũng được, nhưng cái mà phần lớn dân chúng hiểu, thì không thể nhầm lẫn: “chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”.

Không biết có bao nhiêu người Việt Nam thấy “rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét”, như Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt?

Tôi từng gặp và chuyện trò với không ít giáo sĩ Thiên Chúa. Một lần, tôi được yết kiến Đức Giáo Hoàng John Paul 2 và được tặng bức hình chụp với Ngài. Tổng giám mục là một giáo phẩm rất cao, nhất là người cai quản giáo xứ thủ đô của một nước. Các vị là những bậc tu hành học vấn uyên thâm, thường đã dày công hàm dưỡng, thoát khỏi sân, si, hỉ, nộ.

Ở nước ta, người đứng đầu một giáo xứ lớn như Hà Nội, tuyên bố một câu như hôm 20/9 trước Hội đồng thành phố, không thể nói là nước Việt mình không có tự do tôn giáo. Trong lịch sử thế giới này, giữa đời và đạo, hơn 2.000 năm qua, thực không thiếu xung đột. Nhưng nói một câu nước đôi, xúc phạm đồng bào nước mình, hẳn không nhiều vị đã làm.

Con trai tôi, lúc ở nước ngoài, học cùng nhiều bạn theo đạo Hồi, Thiên Chúa, Tin lành, vô thần, nghe khá nhiều tranh luận của họ về tôn giáo, tối hôm qua chợt nhận xét: “Không hiểu sao một vị có địa vị cao đến thế, lại có thể đưa ra một phát biểu khinh suất như vậy”.

Dù là người đức cao vọng trọng đến mấy, ai không do Mẹ đẻ ra, ai không do Đất nước nuôi dưỡng, ai không có Tổ quốc! Sao lại khinh mạn vậy?

Tôi thiết nghĩ, đức Tổng giám mục giáo phận Hà Nội, ngài Giuse Ngô Quang Kiệt, nợ đồng bào mình một lời xin lỗi.

  • Huyền Trương

Tham vọng hải quân của Trung Quốc

September 24, 2008

Năm trăm năm trước, kình địch rõ rệt thống trị các đại dương trên thế giới là hải đội thám hiểm của đế quốc Trung Hoa với hàng nhiều thế kỷ vượt trội mặt kỹ thuật so với mọi đối thủ. Nhưng hoàng đế Trung Quốc quyết định quay lưng với biển cả. Người Trung Quốc sẽ không phạm vào lỗi lầm ấy hai lần.
Photobucket
Năm 2006, truyền hình trung ương Trung Quốc trình chiếu một loạt tài liệu, Daguo Jueqi (1) (Đại quốc quật khởi, Sự xuất hiện của những quyền lực vĩ đại) được kể như thành công ngay tức khắc. Nó bao gồm những cuộc phỏng vấn với các sử gia, các lãnh đạo thế giới và được đánh giá là chính xác đủ để được đem vào kênh Lịch Sử (History Channel) chiếu trên khắp nước Mỹ. Mười hai màn, mỗi màn dài 50 phút cắt nghĩa các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hòa Lan, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Nga và Mỹ phát khởi, lớn mạnh và suy tàn. Người chịu trách nhiệm chương trình, giáo sư trường đại học Bắc Kinh, ông Tiền Thừa Đán (Qian Chengdan) hiểu khát vọng quần chúng trong đất nước ông: Vì Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc, giống nòi Trung Quốc đã được hồi sinh và một lần nữa trên sân khấu thế giới (2).
Đại quốc quật khởi nhìn vào các thắng lợi trên mặt biển của các thế lực chính trong nỗ lực thống trị thế giới. Bất kể dân số hay tầm vóc lãnh thổ của nước phát khởi, chiến lược của họ luôn là mở rộng ngoại giao, kiểm soát những thủy đạo chính yếu và những căn cứ ngoài khơi, am tường kỹ thuật, hoạt động hải quân và gieo ảnh hưởng. Những điều này là những ưu tiên mới của chính phủ Trung Quốc, đặt kế hoạch Kỹ Thuật Cao ngành Hàng Hải năm 2000 song song với sự lớn mạnh của Hải Quân Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Liberation Army Navy – PLAN).

Thực dụng chủ nghĩa và Ngoại Giao

Tài liệu chia ra nhiều thập niên về ý thức hệ đảng Cộng Sản Trung Quốc và tiết lộ chủ nghĩa thực dụng hiện tại của Trung Quốc, nhằm tránh sự mù quáng đầy ngạo mạn của thời kỳ yếu nhược thế kỷ 19. Để ảnh hưởng thế giới trong cung cách thuận hòa (harmonious and peaceful, hai từ chính dùng trong chính sách hiện tại), để mở rộng Trung Quốc cho thế giới, cũng như thế giới với Trung Quốc – dường như là niềm tin hiện tại của Hồ Cẩm Đào. Trong một nỗ lực vô tiền khoáng hậu về ngoại giao hải quân năm 2007, các tàu chiến Trung Quốc viếng thăm các hải cảng Pháp, Úc, Nhật, Tân Gia Ba, Tây Ban Nha, Mỹ và tham gia các cuộc thao diễn đa quốc gia chống hải tặc.

Tham vọng “quyền lực nhung” (soft-power ambitions) của Trung Quốc nên đặt trong quan điểm tập trung vào bối cảnh khu vực. Cũng có hai vấn đề chính. Một là quan tâm của Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với Đài Loan và phạm vi hải phận Trung Quốc trong khu đặc miễn kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ). Nếu Trung Quốc được thỏa mãn những tham vọng của họ, họ sẽ được tiếp cận những vùng bao la ở Thái Bình Dương và những thủy đạo Đông Nam Á bên ngoài vùng bán đảo Đông Dương. Quan tâm thứ hai là bây giờ Trung Quốc đã trở nên quốc gia nhập cảng nhiên liệu đứng hàng thứ nhì trên thế giới, là sự bảo vệ hành lang nhiên liệu của họ. Vấn đề lãnh thổ sẽ là yếu tố quyết định cho hiện tại. Bắc Kinh đã thành công trong vấn đề xác định biên giới với 13 nước lân cận một cách hữu nghị (3). Chỉ có 2 nước công khai chống đối là Bhutan và Ấn Độ. Nhưng theo ông Loic Frouart, Uỷ viên chiến lược vụ Bộ Quốc Phòng Pháp, “14.500 cây số biên giới lãnh hải phô bày nhiều tiềm ẩn khủng hoảng hay va chạm quyền lợi. Có nhiều xung đột chưa giải quyết” (4). Trung Quốc đòi chủ quyền hoàn toàn trên 4 triệu cây số vuông lãnh hải.

Photobucket

Nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ tái chiếm Đài Loan bằng võ lực nếu cần thiết. Đây vẫn còn là lập trường chính thức mặc dầu cuộc tuyển cử tổng thống ở Đài Loan, ứng viên đảng Quốc Dân, ông Mã Anh Cửu (Ma Ying Jeou) đã làm dịu căng thẳng giữa hai bên eo biển. Cùng với sự trổi dậy mau chóng của hải quân Trung Quốc và sự tiết giảm một cách tương đối tính theo trọng tải của hải quân Mỹ, Trung Quốc đang vận dụng các phương tiện tâm lý cũng như quân sự để đi kèm theo sự phát triển dẫn đến việc sát nhập Đài Loan một cách hòa bình. Điều này vừa là thuyết phục lẫn chiêu dụ. Hỏa tiễn nhắm vào đảo quốc và thái độ của Mỹ với Đài Loan, ngăn cản Đài Loan tuyên bố độc lập, trong khi sự lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa Đài Loan và Hoa Lục đang chuẩn bị tinh thần cho công dân một chuyển tiếp Hồng Kông có thể xẩy ra.

Tuy nhiên, Đài Loan không chỉ là quân cờ trong ván cờ vĩ đại vùng biển của Trung Quốc. Trung Quốc cũng đang xung đột với Nhật trong quần đảo Điếu Ngư (Diaoyu tiếng Trung Hoa, Nhật gọi là Sensaku) gần đảo Xung Thằng (Okinawa), nơi có một căn cứ hải quân Mỹ. Đông Kinh cả quyết rằng vùng đặc miễn kinh tế (EEZ, Exclusive Economic Zone) của họ trải dài 450 cây số về hướng Tây quần đảo, trong khi Bắc Kinh ganh đua bằng cách tuyên bố chủ quyền toàn lục địa từ lãnh thổ của họ vươn ra đến biển Đông Hải. Nó không phải điều ngẫu nhiên mà khu vực này chứa một tiềm năng 200 tỉ mét khối hơi đốt. Trung Quốc cũng xung đột với Đài Loan, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei và Nam Dương về quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) và quần đảo Đông Sa (Pratas); tranh giành quần đảo Hoàng Sa (Paracel, Trung Quốc gọi là Tây Sa) với Việt Nam và Đài Loan. Trung Quốc cũng tranh giành hải phận với Nhật và Việt Nam cũng như chỉ tiêu đánh cá với Nam Hàn, Nhật, Việt Nam và Phi Luật Tân.

Tham vọng hải quân với chiến lược trường kỳ

Chúng ta có khuynh hướng quân rằng Trung Quốc luôn sinh động trong khu vực. Thập niên 1950 hải quân Trung Quốc chiếm lại hầu hết những hòn đảo cận duyên của Tưởng Giới Thạch. Năm 1974 họ lợi dụng chiến tranh giữa hai miền Việt Nam để chiếm đoạt Hoàng Sa và năm 1988 chiếm đoạt hòn đảo Chữ Thập, nằm phía Nam đảo Nam Yết (Fiery Cross reef ) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tất cả các nước trong khu vực, một thời là chư hầu của đế quốc Trung Hoa, đều e sợ tham vọng hải quân Bắc Kinh.

Năm 1980, điểm quan trọng chiến lược của đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing) (5) trước tiềm năng dầu mỏ và đánh cá ở Nam Hải là bảo đảm sự vãng lai cho hạm đội Trung Quốc. Trung Quốc cần áp đặt sự hiện diện của họ về phía Tây của một thủy đạo xanh lục (green sea line) từ Nhật đến Mã Lai qua Đài Loan và Phi Luật Tân. Kình địch chính là hải quân Nhật mà Trung Quốc đã thăm dò bằng những thâm nhập tiềm thủy đĩnh (gồm cả một vụ với tiềm thủy đĩnh nguyên tử năm 2004).

Bây giờ Bắc Kinh định chọc thủng đường ranh này và xuyên qua vùng nước cạn ở Đông và Nam Hải vào vùng thủy đạo xanh dương (blue water line) của một vịnh thứ nhì từ Nhật tới Nam Dương qua Guam, trục hải, không lực Mỹ trong vùng Tây Thái Bình Dương. Trở ngại chính cho kế hoạch bành trướng của hải quân Trung Quốc tới thủy đạo xanh dương (Hạm đội 7 Mỹ kiểm soát) chính là Đài Loan. Tháng Giêng năm 2008 bộ trưởng quốc phòng Đài Loan, ông Ko Chen Heng, lên án các hoạt động hải quân Trung Quốc trong kênh Bashi, một thông thủy hẹp giữa Đài Loan và Phi Luật Tân.

Một khi Trung Quốc giải quyết xong vấn đề tiếp cận ngoài khơi, hải quân sẽ có thể dành thì giờ để bảo đảm 4 hành lang năng lượng ở Đông Nam Á. Hành lang thứ nhất gồm những tàu dầu dưới 100 ngàn tấn từ Phi Châu và Trung Đông đến Nam Hải qua eo biển Malacca. Hành lang thứ nhì là những tàu dầu khổng lồ từ cùng những nơi sản xuất trên qua Sundra và eo biển Gaspar (6), và hành lang thứ ba từ Nam Mỹ qua biển Phi Luật Tân. Hành lang thứ tư là một đường tùy chọn từ Trung Đông và Phi Châu giửa eo biển Lombok và Macassar, Phi Luật Tân và Tây Thái Bình Dương trước khi đến cảng Trung Quốc. Malacca là nút thắt chính với 80 phần trăm nhiên liệu nhập cảng băng qua eo biển, khiến Trung Quốc có thể bị nghẽn trong xung đột. Nó chuyển hướng tiếp cận bằng cách phát triển hệ thống đường rầy nối các nước thuộc Hiệp Hội các quốc gia Á Châu (ASEAN, Association of Southeast Asian Nations), kết thúc đường ống dẫn dầu Hoa-Miến giữa Sittwe và Côn Minh (7), giúp việc phát triển năng lực sản xuất khí đốt ngoài khơi trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt ở Thái Lan và Miến Điện, và ngay cả việc dự trù xây dựng một kinh đào ngang qua giải đất Kra Nam Thái Lan, nơi bị bọn ly khai Hồi Giáo Thái Lan đe dọa.

Chiến lược xâu chuỗi ngọc

Những dự án này khó và sẽ chỉ giảm bớt phần nào sự lệ thuộc của Trung Quốc vào các hành lang. Sự cần thiết đảm bảo chúng chống lại hải tặc và tham vọng của Mỹ, Nhật, Ấn Độ khiến Trung Quốc phải củng cố chiến lược hải quân viễn duyên của họ. Bắc Kinh đang xây dựng một “chuỗi ngọc trai” gồm những căn cứ vĩnh viễn dọc theo bờ biển Ấn Độ Dương và các thủy đạo dẫn đến Malacca: Marao ở Maldives, quần đảo Coco ở Miến Điện, Chittagong ở Bangladesh và Gwadar ở Pakistan, trong khi chờ để xây dựng thêm các căn cứ bờ biển ở Phi Châu, đang sẵn sàng ký kết đầu tư với Trung Quốc. Trung Quốc không thiếu công nhân hay ngân sách để tổ chức và bảo trì các căn cứ trong các nước đồng minh. Họ còn dám tặng không tàu chiến cho nước nào bảo vệ nhiên liệu ngoài khơi của họ (8).

Không kể Mỹ, kẻ tin rằng Thái Bình Dương sẽ là một khu vực chiến lược chính trong bán thế kỷ tới, Trung Quốc có hai địch thủ đáng gờm: Ấn Độ và Nhật. Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia lớn nhất về dân số, luôn lo ngại lẫn nhau – Không phải là ít theo quan điểm Ấn Độ, bởi vì Trung Quốc ủng hộ Pakistan trong vấn đề phiến loạn Kashmir và tiếp tục cung cấp vũ khí cho Islamabad. Ấn Độ mong muốn vị thế của Trung Quốc (một cường quốc khu vực với một khuynh hướng toàn cầu) và có tham vọng hàng hải để đối chọi. hạm đội của Ấn Độ đang phát triển và mục tiêu chiến lược đề ra là làm chủ Ấn Độ Dương. Chiến lược chuỗi ngọc của Bắc Kinh là một sự xâm lấn.

Để đặt cược vào chiếu bạc, Ấn Độ chế tạo hai mẫu hạm, sẽ hạ thủy năm 2010, chiếc thứ ba đang trù tính mua lại mẫu hạm cũ của Nga. Hạm đội tiềm thủy đĩnh của Ấn Độ dùng kỹ thuật Pháp trội hơn của Trung Quốc về phẩm chất. Hai nước đang trong giai đoạn dò xét lẫn nhau và cẩn trọng tránh xung đột. Có những tiến bộ ngoại giao giữa hai lực lượng hải quân và thao diễn quân sự phối hợp từ khi hai nước ký kết một hiệp ước chung vào tháng Tư năm 2005.

Bang giao giữa Nhật và Trung Quốc đã qua thời kỳ căng thẳng. Hạm đội Nhật mạnh và tân tiến hơn Trung Quốc và đã tham dự thao diễn quân sự với hải quân Mỹ nhiều năm. Nhưng tranh chấp trên quần đảo Điếu Ngư tiết lộ một nước mất bình tĩnh, gây cản trở bởi hiến pháp hòa bình thời hậu thế chiến, hiện bị những phe nhóm quốc gia chủ nghĩa phê phán. Nhật chưa có biện pháp đối phó với Trung Quốc. Không chỉ một mình Nhật và Ấn Độ lo ngại về áp lực Trung Quốc. Những nước nhỏ như Mã Lai, Nam Dương, tân Gia Ba cũng đang củng cố và hiện đại hóa hạm đội của họ. Họ sợ rằng, Mỹ đang sa lầy ở I – Rắc và A Phú Hãn, Trung Quốc sẽ nắm quyền thống trị trong khu vực và một tình thế trôi qua có lẽ trở nên rõ rệt.

Xưởng đóng tàu làm việc thâm công (overtime)

Xưởng đóng tàu Trung Quốc đang nắm bắt cơ hội và làm việc cật lực từ Hoàng Hải đến Nam Hải. Các căn cứ hải quân, bến sông, đê biển, căn cứ phòng vệ tiềm thủy đĩnh (gồm căn cứ nguyên tử Sanya trên đảo Hải nam) đang phát triển và canh tân khi kinh tế quốc gia đang kỳ nở rộ, mà nền ngoại thương của nó lệ thuộc 90/100 vào đường biển. Năm 2006 những kỹ nghệ liên quan đến biển chiếm 10/100 tổng sản lượng quốc gia và 7 trong số 20 hải cảng quan trọng nhất trên thế giới là của Trung Quốc. Nỗ lực Trung Quốc gồm cả mục tiêu quân sự lẫn dân sự. Cùng với những kiến tạo hải quân, kế hoạch kỹ thuật cao về hàng hải được tài trợ song song những dự án củng cố sự tự quản của hạm đội, như hệ thống định vị bằng vệ tinh, gọi là Bắc Đẩu (Beidou), hệ thống giám sát hàng hải và xưởng đóng tàu.

Năm 1995 Trung Quốc đứng hàng thứ ba về kỹ nghệ đóng tàu dân sự sau Nhật và Đại Hàn và đang ráo riết đuổi kịp. Với 2 tập đoàn kinh doanh khổng lồ, công ty đóng tàu Quốc Doanh và công ty Kỹ Nghệ đóng tàu Trung Quốc (China State Shipbuilding Corporation and China Shipbuilding Industry Corporation) Trung Quốc có triển vọng trở nên quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới năm 2020. Kế hoạch quốc gia Trung Quốc không phân biệt tàu quân sự hay dân sự và cả hai được đóng tại cùng một xưởng.

Thứ hạng 8 hải lực lớn nhất thế giới


Photobucket

(Source: Annuaire des Flottes de Combat, 2008 – Đơn vị tính : Ton)

Bạch thư quốc phòng thứ 5 của Trung Quốc phổ biến năm 2006 (9), cung cấp một bộ khung về tổ chức hàng hải hình thành hồi đầu thập kỷ 1990. Nó chuyển giao ưu tiên từ quân đội mà theo truyền thống là ưu tiên số một, sang Hải và Không quân. Ủy ban trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và quân ủy trung ương, hiện có nhiều sĩ quan Hải, Không Quân hơn trước (10). Năm 2007 đã có non 25/100 sĩ quan Hải, Không quân so với 14/100 năm 1992.

Không chi tiêu nào được dành dụm. Ba hạm đội Trung Quốc (Hạm Đội Đông Hải đặt chỉ huy sở ở Thượng Hải, Hạm Đội Nam Hải ở Trạm Giang và Hạm đội Bắc Hải ở Thanh Đảo), mỗi hạm đội có căn cứ hải quân với oanh tạc cơ và chiến đấu cơ cơ hữu. Nhiều hệ thống hiện đại đã được phân phối, chẳng hạn khu trục hạm phòng không Lữ Dương (Luyang) hay chiến hạm Mã An Sơn (Ma Anshan), phiên bản mới của chiến hạm Giang Vệ (Jiangwei ) thời thập kỷ 1990. Trung Quốc có hơn 500 Tuần Duyên Đỉnh ở cuối thập niên 1970 và một nửa trong số vẫn còn lưu dụng cho đến nay nhưng hạm đội viễn duyên đã tăng đến con số 60 chiến hạm (11).

Một nỗ lực đáng kể cũng đã được thực hiện trong lãnh vực chiến hạm thủy bộ với nhiều trăm tàu đang được đóng biến tham vọng chiếm đoạt Trường Sa hay Đài Loan thành hiện thực. Trục Lôi Hạm, Phóng Pháo Hạm tầm xa và những tàu dầu cũng đang được chế tạo. Không thiếu những trợ giúp ngoại quốc, từ Khinh Tốc Đỉnh Úc cho đến Khu Trục Hạm Sovremenny Nga và Tiềm Thủy Đỉnh Kilo Ý, hệ thống chiến đấu Pháp và hải pháo Hoà Lan. Trung Quốc nhập cảng, nhái mẫu, chế biến và thường thường làm kinh ngạc nước cung cấp, cải thiện những chiến cụ họ muốn. Trong vài lãnh vực như chiến cụ điện tử hay những động cơ hiệu quả nhất và hệ điều khiển chiến đấu, Trung Quốc lệ thuộc vào ngoại quốc, đặc biệt vào nguồn cung cấp từ Nga.

Vai trò chính của Tiềm Thủy Đỉnh

Tiềm thủy đỉnh đóng vai trò chính trong đồ án hàng hải toàn cầu của Trung Quốc. Mặc dầu những tin đồn dai dẳng về việc mẫu hạm tân trang Varyag mua của Nga và mẫu hạm đang chế tạo trong một xưởng đóng tàu hàng nhiều năm, Trung Quốc không có một mẫu hạm nào, và chỉ những Tiềm Thủy Đỉnh hiện đại có thể hy vọng làm nản chí hạm đội 7 Mỹ vẫn canh phòng Đài Loan từ căn cứ Hải Quân Guam, Nhật và Đại Hàn. Hạm đội Trung Quốc nổi tiếng về những Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử tốc chiến và một Tiềm Thủy Đỉnh phóng hỏa tiễn tầm xa (SLBN, Submarine Launched Ballistic Missile) có thể mang 12 đến 16 phi đạn nguyên tử với tầm xa 3500 cây số. Ngoài ra, còn có 30 Tiềm Thủy Đỉnh chạy dầu cặn và hơn 20 tàu lặn khác đang được chế tạo.

Hạm đội 7 Mỹ lo ngại về khối vũ khí này và các đô đốc đang thỉnh cầu quốc hội lẫn Tòa Bạch Ốc, viện dẫn hạm đội Tiềm Thủy Đỉnh Trung Quốc sẽ vượt trội con số chiến hạm Mỹ vào năm 2020. Những vị có ảnh hưởng, như nghị sĩ Duncan Hunter (12) mới đây đã đặt vấn đề. Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử Trung Quốc thực hiện nhiều chuyến tuần phòng hơn các năm trước. Những quan ngại này được phản ảnh trong phúc trình hằng năm của Ngũ Giác Đài về quân lực Trung Quốc (13) nhưng chúng cần được đặt trong viễn ảnh. Không ai biết năng lực của những Tiềm Thủy Đỉnh Trung Quốc và nó có thể rất tồi.

Hải quân Mỹ có 53 Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử, gấp 2 lần số lượng bất cứ quốc gia nào, cũng như có 12 trong số 15 mẫu hạm toàn thế giới và một không đoàn vô địch chuyên chống tàu ngầm. Vấn đề chót của bản phổ biến Mỹ về duyệt xét quốc phòng tứ niên (14)có phần xuống giọng và bàn thảo về hợp tác hơn là đối đầu. Tình trạng ở Nam Hải không là một cuộc chạy đua võ trang có tuyên bố nhưng một chống đối địa lý khác nhau giữa các hạm đội Ấn Độ, Mỹ, Úc, Nhật và hạm đội Pakistan, Trung Quốc.

Tham vọng hàng hải Trung Quốc là hậu quả do niềm thất vọng của một quốc gia đáng lẽ thống trị thế giới trong công cuộc toàn cầu hóa đầu tiên 500 năm về trước nhưng đã bị bọn man di mọi rợ da trắng tiếm đoạt. Trung Quốc đã am tường thiên văn về hàng hải và sử dụng la bàn, phát minh mỏ neo, in những bản đồ hàng hải, thuyền trưởng, centre-board năng động (kiến trúc dưới lườn với tấm cản giữ cho tàu khỏi lật – Lời người dịch) và có lẽ sáng chế những con tàu khổng lồ nhiều buồm với giàn kéo buồm bằng trục (15). Khoang tàu được chia thành nhiều buồng kín nước và bánh lái rời. Tất cả những thứ ấy được canh tân và hoàn hảo bởi người da trắng và thường là mối nhục của người Trung Quốc.

Triều đại nhà Minh (1358-1644), Trung Quốc bỏ dở các công cuộc chinh phục biển khơi ở thế kỷ 15 của thái giám đô đốc Trịnh Hòa với hơn 300 thương thuyền thám hiểm các đại dương (16). Đóng những chiếc tàu vượt đại dương có thể bị tử hình. Sai lầm này đã được học và vinh quang quá khứ bây giờ được nâng niu ấp ủ trở lại. Những diễn đàn chính thức cổ động sự hiện diện của Trung Quốc tại châu Phi kể câu chuyện của Mwamaka Shariff lali, một phụ nữ ở đảo Lamu, Kenya – nơi những mảnh đồ gốm thời nhà Minh được khảm vào những kiến trúc địa phương – là con cháu của các thủy thủ Trung Quốc đắm tàu trên hòn đảo trước khi Trung Quốc bỏ dở những cuộc viễn thám biển. Chị đã được tặng một học bổng ở trường đại học Trung Quốc và được mời dự lễ mừng “ngày hàng hải Trịnh Hòa” ở tỉnh Giang Tô, điểm xuất phát của hải đội đế quốc (17).
Photobucket
Mỹ đã gia tăng các phát động trao đổi và hợp tác với hải quân Nhật và Ấn Độ cũng như Trung Quốc nhằm kiểm soát sự bành trướng to lớn của các nước ấy bằng mọi cách. Nỗ lực mới nhất của Mỹ là Khởi Động Hợp Tác Hàng Hải Toàn Cầu, trong đó, mỗi đồng minh, gồm cả Trung Quốc được mời đóng góp cho một hạm đội 1000 tàu để tiểu trừ hải khấu. Thiếu tướng Dương Nghi, giám đốc trường đại học Quốc Phòng Trung Quốc về nghiên cứu chiến lược, không tin rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận đề xuất này trước khi tìm ra những động cơ thầm kín và ý đồ lâu dài của nó (18). Trung Quốc muốn ngăn cản bất cứ điều gì nhằm cướp đoạt cơ hội thứ nhì trong lịch sử để trỗi dậy như một quyền lực bá chủ hàng hải. Trung Quốc không quên cuộc chiến tranh nha phiến, cũng không quên mối nhục quân Anh đốt phá Viên Minh ngự uyển năm 1860, và sẽ không nhịn trước đe dọa hay áp chế. Họ đang dè chừng. Dù còn lâu mới có thể vượt trội hải quân Mỹ, họ được lịch sử chỉ dẫn và mỗi thành tựu hải quân mới đạt được một giá trị mang tính biểu tượng (không cụ thể). Năm 1989 chiến hạm đầu tiên Hải Quân Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Liberation Army Navy – PLAN) thăm viếng nước Mỹ là một chiến hạm huấn luyện. Chiến hạm ấy mang tên Trịnh Hòa.

  • Tác giả Olivier Zajec; Metamorph chuyển ngữ