Những cái nhất đáng suy tư

February 10, 2009

Sự lạc quan thái quá và thiếu hiểu biết từ năm 2007 đã gây nhiều hệ lụy và làm bùng phát những cái nhất đáng lo trong năm 2008. 2008 là năm chứng kiến nhiều “nhà” đòi giải cứu nhất; nhà chứng khoán; nhà bất động sản; nhà xuất khẩu; nhà nhập khẩu; nhà nông…

Ông bà mình nói nhân nào quả đó quả thật không sai. Đầu xuân xin mạn đàm về mối quan hệ nhân quả kinh tế-xã hội trong năm qua để “cùng ngẫm mà đau cái sự đời”.

2007- Lạc quan “vô địch thế giới”

Còn nhớ năm 2007, Ngân hàng Thế giới xếp hạng Việt Nam là một trong những quốc gia có năng lực và hiệu năng quản lý quốc gia thấp nhất thiên hạ. Đến giờ thứ hạng này vẫn không được cải thiện là bao. Thế nhưng cũng trong năm đó, các báo đều đưa tin người Việt Nam chúng ta vô địch thế giới về mức độ lạc quan theo đánh giá tại 53 nước của tổ chức Gallup Internationl. Chính quyền quá hài lòng trước đánh giá này, có lẽ vì nó củng cố thêm những điều mà họ ngỡ là tốt đẹp mà mình đã đem đến cho người dân.

Tất nhiên năm đó có nhiều xếp hạng nhất chính thức khác, tốt có, xấu có. Nhưng phàm tốt khoe, xấu che nên hầu như ít ai dám phạm bàn đến vế thứ hai. Vì thế, ta thấy xung quanh cái gì cũng tốt. Mấy ai để ý người nước ngoài có thói quen bặt thiệp đi đâu cũng khen, “lời nói không mất tiền mua” mà! Vì vậy, xin hãy thật cẩn thận trước những lời khen tặng mang tính ngoại giao, kẻo coi chừng tự tin thái quá.

Điều này tai hại vô cùng, vì nó đã gieo mầm cho quá nhiều cái nhất khác nữa đi kèm. Điển hình là cơn sốt “nhà đầu tư chứng khoán” đến mức ngay cả bà bán chuối chiên cũng được lăng xê lên mặc báo tượng trưng cho nguồn nhân lực quốc gia huy động chơi chứng khoán. Nhiều cơ quan công sở, thậm chí cả trường học lúc bấy giờ lo phát sốt vì sợ cán bộ và giáo viên của mình bỏ việc hoặc tối ngày chỉ có bàn bạc chuyện đầu tư tài chính!

2008- Bùng phát hệ luỵ

Nói chung, cái nhân mà chúng ta đã gieo là sự lạc quan và tự tin một cách thiếu hiểu biết hàng thập niên nay, để rồi chúng tích luỹ lại và 2008 là năm bùng phát hệ luỵ.

Tất nhiên cũng với nhiều cái nhất!

Đầu tiên là lạm phát cao nhất khu vực. Tiền của đổ hết vào đầu tư chứng khoán và bất động sản chứ đâu có đưa vào sản xuất, kinh doanh bao nhiêu nên lạm phát cao là đương nhiên.

Một số chính sách kinh tế chống lạm phát của các bộ, ngành cũng được xem là tréo ngoe nhất. Chẳng hạn, nhà xuất khẩu không được phép bán “đô la ế” trong khi nhà nhập khẩu cần đôla thanh toán thì không được phép mua…

2008 còn là năm chứng kiến nhiều “nhà” đòi giải cứu nhất. Giải cứu nhà chứng khoán; giải cứu nhà đất; giải cứu nhà xuất khẩu; giải cứu nhà nhập khẩu; giải cứu nhà nông vì không xuất khẩu được gạo; giải cứu nhà độc quyền – như điện chẳng hạn. Cái anh này than lỗ quá trời nên xin trả lại 13 dự án điện liên quan đến quốc kế dân sinh trong khi có tiền xây resort và xin chia thưởng hơn ngàn tỷ đồng!

Những lộn xộn kinh tế đương nhiên kéo theo nhiều rối ren xã hội.

Muốn giảm kẹt xe và tai nạn, chính quyền yêu cầu người dân phải nộp phí cầu đường, rồi quy định người thấp bé nhẹ cân, ngực lép không được phép lái xe trong khi người bụng phệ, béo phì thì vô tư. Trong bối cảnh người dân đang phải oằn lưng với vật giá leo thang, những yêu cầu dạng này có thể xem là điển hình của những quy định thiếu tính nhân bản nhất trong năm cho dù chúng chưa được ban hành.

Năm 2008 còn lập một kỷ lục vô tiền khoáng hậu, có lẽ lần đầu tiên trong đời người ta mới chứng kiến số lượng “lô cốt” xuất hiện dày đặc và dài ngày nhất ở TP. HCM.

Hà Nội ngược lại, vô tình phát hiện cách thức chống kẹt xe hữu hiệu. Chỉ vài ngày mưa tầm tã người dân đã nhanh chóng chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe sang ghe xuồng. Một bài báo lúc bây giờ đã đưa tít “Thuyền trưởng thời phố thành sông”, không ai ngờ có ngày ngay giữa lòng thủ đô lại xuất hiện thuyền trưởng điểu khiển ghe tàu.

2008 cũng là năm giội lên nhiều vụ gây ô nhiễm môi trường nhất mà Vedan là một điển hình. Nhưng giống như trong một bộ phim trinh thám, những nhân vật xuất hiện đầu tiên không bao giờ là thủ phạm. Thậm chí nhiều nghi can ban đầu còn là nhân vật chính diện do tham gia làm từ thiện chỗ này, nọ chút đỉnh. Dường như bắt đầu có cái gu mấy anh doanh nghiệp gây ô nhiễm và tàn phá môi trường thích làm từ thiện? Chắc cũng còn lời nhiều lắm!

Nhiều cái nhất do nhân tai

Bên cạnh thiên tai, 2008 còn là năm xuất hiện nhiều nhân tai nhất.

Đây là một khái niệm độc đáo xứng đáng bổ sung vào từ điển ngôn ngữ Việt Nam. Bởi suy cho cùng, cho dù các bộ, ngành lý luận hay đến đâu thì từ chuyện lạm phát cho đến ngập lụt giữa lòng thủ đô đến ô nhiễm môi trường, đến cúp điện, đến “lô cốt” giữa thời bình, đến kẹt xe triền miên, đến vụ nước tương có độc tố 3-MCPD, sữa nhiễm melamine, rác thải y tế chôn loạn xạ, loạn hoa hậu chưa đủ chuẩn… cũng đều do nhân tai mà ra hết thảy! Nhưng thiên tai do trời, còn nhân tai do ai? Ngành môi trường có lẽ xứng đang nhận được điểm xuất sắc cho câu trả lời của mình! Sau khi lý luận lòng vòng trước Quốc hội và ít thuyết phục được ai, cuối cùng lãnh đạo ngành môi trường cho rằng nhân tai chung quy “do lịch sử để lại”.

Câu hỏi thuộc về yếu tố con người. Câu trả lời thuộc về mệnh đề thời gian. Đúng là tréo ngoe. Vì vậy, đây có lẽ cũng là câu trả lời lịch sử có một không hai.

Thôi thì khó khăn chung, hy vọng sẽ qua đi để không phải nhà nhà ai cũng yêu cầu giải cứu. Hy vọng năm mới 2009 cũng là năm ít nhiều giải quyết được vấn đề nhân tai hợp lòng dân, để người dân không còn phải xem nhiều “bộ phim” “bỗng dưng muốn khóc” như năm rồi!

  • GS Nguyễn Ngọc Thơ

Một căn bệnh xã hội cần được gọi đúng tên

January 6, 2009

Một lần, cách đây cũng đã gần mươi năm, một đồng chí có trách nhiệm hỏi tôi vấn đề xã hội trầm trọng nhất, bức xúc nhất của chúng ta hiện nay là gì? Câu trả lời của tôi khiến cho đồng chí ấy trầm ngâm: “Quốc nạn tham nhũng, đại dịch HIV-AIDS, ma tuý, mại dâm, nạn buôn lậu xuyên quốc gia… là những vấn đề xã hội nghiêm trọng đang được nói đến nhiều. Nhưng theo tôi, điều bức xúc nhất, trầm trọng nhất là một lối sống tệ hại đã trở thành thói quen của không ít người, đó là thói đạo đức giả, nói một đằng, làm một nẻo; trong hội nghị thì gật gù tán thưởng, ra quán trà thì dè bỉu, chê bai, trên diễn đàn thì cao đàm khoát luận những chuyện cao siêu, vào quán nhậu thì bàn mưu tính kế kiếm chác, lừa gạt ti tiện… Sự nguy hại khôn lường của nó chính là đã tạo ra một tập quán e ngại, lẩn tránh sự thật, chỉ thích cái nghe cái giả không dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, tự đánh lừa mình bằng cái giả đã quá quen tai. Tai mình, và nhất là tai cấp trên. Dần dần, không chỉ là quen tai, mà rồi cũng quen trong hành vi ứng xử và nguy hiểm hơn nữa là quen trong một nếp tư duy. Tôi nghĩ rằng, đây là một bệnh lý xã hội trầm trọng, và kéo dài, cần phải dũng cảm gọi đúng tên, để đấu tranh khắc phục. Câu trả lời ấy tôi bật ra ngay khi được hỏi vì nó đã nung nấu từ lâu, từ những quan sát, tiếp xúc, va chạm, kiểm nhận, suy ngẫm. . .

Chuyện đạo đức giả đâu phải là mới mẻ gì mà om sòm làm vậy? Vẫn là chuyện xưa cũ cả đấy thôi. Chẳng thế mà Uy viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ đã tự lỡm mình: “Ban ngày quan lớn như thẩn, Ban đêm quan lớn tần mần như ma. Ban ngày quan lớn như cha. Ban đêm quan lớn rầy rà như con”. Thì cũng là một thứ đạo đức giả được thành thật phơi bày đấy chứ gì.

Nhưng để tự lỡm mình, chỉ ra được cái tếu táo của chính mình là vì con người ấy dám thật với mình, thật với đời. Và để có cái thật ấy, phải là nhân cách của người “cầm quân đến tài danh tướng, làm thơ đến bậc văn hào”.

Đó chuyện đời xưa. Còn chúng ta nay đang xây dựng Chủ nghĩa xã hội cơ mà. Thi hào Na-dim Hít-mét từng viết về Chủ nghĩa Xã hội: “Em hiểu không, Chủ nghĩa xã hội. Làm thế nào cắt nghĩa cho em. Đó là lúc tự do đã hóa thành muối ăn với bánh đậm đà. Thành lời thật trên môi ta nói. Thành lửa hồng trong bếp của ta” (Xuân Diệu dịch). Chủ nghĩa Xã hội đích thực đòi hỏi cái thật, nó đối lập với cái giả. Chính vì thế để cho cái giả len lỏi vào tận chân tơ kẽ tóc của cuộc sống, ngư trị trong kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội thì đó là một trọng bệnh lý xã hội.

Không là trọng bệnh sao được khi có người mặc sắc phục cảnh sát giao thông, với xe moto, xe Jeep của Nhà nước trang bị cho… để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, giữ gìn phép nước thì lại trở thành nỗi kinh hoàng của dân với nạn mãi lộ công khai và trắng trợn của họ. Báo Tuổi Trẻ số 11.4.2000 chạy một dòng tít: “Không thể dẹp được mãi lộ trong cảnh sát giao thông?” đã dẫn ra lời của một người dân: “Mãi lộ với cảnh sát giao thông ngày nay đã là chuyện bình thường đến nỗi nhiều lúc trở thành đòi hỏi trắng trợn. Xe vi phạm luật lệ giao thông chỉ cần một gói Ba số, mười ba, mười lăm ngàn đồng là xong ngay. Có những cảnh sát giao thông cầm ngay tiền, thuốc giữa chốn đông người chẳng ngại ngùng e sợ luật lệ gì cả. Tôi là một người dân đã bao lần chứng kiến cảnh này mà lòng xốn xang tự hỏi kỷ cương xã hội đâu rồi.”

Không là trọng bệnh sao được khi có một dịch vụ làm “phao” rất rầm rộ và công khai để bán cho học sinh quay cóp trong các kỳ thi ở tất cả các cấp, khi cả một cấp ủy huyện nọ chuẩn bị cho những cán bộ chủ chốt của họ vào Tp. Hồ Chí Minh thi bằng Cử nhân luật đã “chu đáo” đến độ mua sẵn một máy photocopy hiện đại và một máy phát điện nhỏ chở lên xe mang đi. Để làm gì vậy? Để photocopy, hoặc dù có gần thì nhỡ đang photo bài giảng do “thầy” được thuê đi cùng làm hộ mà đúng lúc ấy bị cúp điện thì làm sao các “sĩ tử” của huyện nhà kịp nhận được bài giải mà chép! (báo An ninh thế giới). Ôi chuẩn bị thi “chu đáo” đến vậy thật có một không hai. Chẳng thế mà việc mua bằng, bán điểm, xin học hàm chạy học vị trở thành một nỗi ô nhục khiến cho vàng thau lẫn lộn, thật giả khó phân đâu là tiến sĩ thật, đâu là tiến sĩ rởm trở thành nỗi canh cánh trong tâm lý xã hội.

Thời cụ Nguyễn Khuyến loại “tiến sĩ giấy” “cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai. Cũng gọi ông nghè có kém ai”… với “cái giá công danh ấy mới hời” cũng đã từng bị lên án, nhung “đại trà” đến như bây giờ thì quả thật là chưa! Chưa là vì trước đây làm gì có cái cơ chế người đời “cử” trước “thi” sau. Người ta nói thi cử là tuân theo cái logic thông thường, chuẩn bị tri thức đủ để có khả năng đảm nhiệm những công việc đòi hỏi cần phải có những tri thức ấy. Và thi là để những cơ quan có thẩm quyền xác nhận thực lực của những người đã dày công chuẩn bị đón nhận những công việc mà họ có khả năng đảm nhận và mong muốn được đảm nhận. Ấy thế mà làm ngược lại với lôgic thông thường đó lại là một thực tế khá phổ biến trong việc lựa chọn và đề bạt cán bộ của ta hiện nay: cứ việc cử đã rồi nếu cần thì thi sau, đương nhiên là cũng có những căn cứ để dựa vào mà cử như quá trình công tác, lý lịch chính trị, kinh nghiệm tích lũy… Nhưng khi đã được cử rồi thì mọi chuyện thi sẽ rơi vào một tình huống khác. Vì rằng “Dứt khoát phải có thi rồi mới cử… Ngày nay, đa số cán bộ lại được cử rồi mới thi “. Thế mới có chuyện các kiểu chạy, chạy thầy, chạy hội đồng thi, chạy điểm, chạy bằng… “nhiều nhất là ở các trường kinh tế, quản trị kinh doanh, ở các lớp tại chức mở ở địa phương để cấp bằng đại học cho các quan chức củng cố ghế của họ. Bởi vậy mới có tình trạng người có bằng giả thì ngồi đấy, người có bằng thật thì thật thì thất nghiệp” (GS. Nguyễn Văn Chiển, Tạp chí Tia Sáng số 5.2000).

Bởi thế mới có những con số đau lòng: có đến 65% giám đốc và tổng giám đốc các doanh nghiệp nhà nước của xứ ta không có “khả năng đọc và hiểu được quyết toán tài chính hàng năm” cho nên mới có chủ trương “phải đào tạo lại đội ngũ giám đốc, tổng giám đốc này, nghĩa là phải giúp họ tiếp tục tồn tại và phát triển trong khi hàng vạn sinh viên được đào tạo chính quy và tốt nghiệp các trường đại học kinh tế có thừa khá năng đọc và hiệu quyết toán tài chính thì chẳng thể nào tìm kiếm việc làm được” (Báo Thanh Niên ngày 2-6).

Bởi thế mới có những chuyện thi cử đáng xấu hổ như một nghiên cứu sinh trả lời thầy hướng dẫn “thầy cứ góp ý kiến thoải mái, tôi sẽ báo thư ký của tôi nó sửa và viết lại theo đúng ý thầy”. Đáng sợ hơn nữa là cái cơ chế đáng xấu hổ ấy đã thấm vào đến tuổi trẻ học đường “chạy để được giỏi’ “cuộc chạy đua xin điểm để được… giỏi. Điều này diễn ra ở phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, số giáo viên đang dạy trung học phổ thông mà có con đang học lớp 12″. Bài báo đưa ra kết luận: điều đó nói lên rằng danh hiệu “học sinh giỏi” mà các em ấy đang có, là không thực (Báo Lao Động ngày 1.6). Tiêm vào tâm hồn tuổi trẻ học đường cái tâm lý chạy theo cái không thực đó thì không hiểu rồi đây khi chúng đảm đương cơ nghiệp của tổ tiên, của cha anh, chúng sẽ “chạy” theo con đường nào đây?

Có những căn bệnh bệnh xã hội mà những tiến bộ của y học thế giới đã hứa hẹn những triển vọng có thuốc chữa khỏi. Căn bệnh xã hội về “chuộng cái giả mà sợ cái thật” thì không thể chờ đợi ở y học mà cứu cánh của nó lại là sự dũng cảm nhìn vào sự thật, nói đúng sự thật điều mà đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng cảnh báo về “tình hình nguy kịch không thể coi thường… Cần thấy hết tình hình, rút ra kết luận nghiêm khắc với ý chí cách mạng tiến công“(báo Nhân Dân ngày 15.5.1999).

  • GS Tương Lai

Một thế hệ “Vô hồn”

December 27, 2008
  • Giang Chi

Năng động, thông minh, hiểu biết, giữ những chức vụ cao cấp trong các tập đoàn lớn với mức lương ngật ngưỡng… – đó là chân dung của một lớp doanh nhân thành đạt thời @. Nhưng đó chỉ là một phần trong con người họ – phần mà chúng ta nhìn thấy ban ngày. Còn thế giới về đêm của họ là một thế giới hoàn toàn khác mà có thể rất nhiều người trong chúng ta khó hình dung nổi. Cũng là họ đấy, nhưng là những tay chơi thứ thiệt trong trang phục Gucci, Prada với những cuộc nhậu nhẹt triền miên chốn nhà hàng, vũ trường – nơi một chai rượu có giá không dưới 1000 đô la, nơi đám dân “xăng pha nhớt” đang hàng đêm dật dờ tìm kiếm bạn tình theo kiểu quái dị; nơi họ đốt tiền vào những trận phê heroin hay mây mưa với đám ca ve cao cấp, và ở đó, ngay cả những chú chó cũng thời thượng không kém chủ nhân…Họ chính là những công dân thế hệ 7X của thế giới @ tại Nga – “thế hệ với thật nhiều tương lai và hứa hẹn. Sự khởi đầu của thế hệ này từng rực rỡ biết bao nhưng cuộc sống của họ lại uổng phí biết nhường nào”…Business World Portal xin lược trích từ cuốn “Vô hồn” một số đoạn nói về cuộc sống của những công dân “ cổ cồn trắng” thời thượng, sành điệu nhưng vô cảm, dửng dưng trước cuộc đời, những con người tồn tại như cỗ máy trong một thế giới mà bất cứ thứ gì cũng có thể được đem ra mua bán, đổi chác, kể cả tình cảm.

Thông tin liên quan

Văn học Nga: “hiện tượng Duhless”
Sergei Minaev – Nhà văn Nga 7X: Chúng tôi là những kẻ giữa dòng

Kỳ 1: Một cuộc nhậu nhẹt

“Và tôi đến cái vũ trường – nhà hàng này. Mặc dù vẫn còn sớm, đâu đó khoảng chín giờ tối, nhưng bên trong, dân tình đã tụ tập khá đông. Tôi ngó nghiêng mọi người, bắt tay ai đó, hôn tay cô nàng nào đó và tiến đến quầy bar. Tôi gọi đôi ly whisky, tợp một hơi hết ly thứ nhất và cầm ly thứ hai tiến đến gian trong để nhìn xem có chuyện gì đang xảy ra ở đây.

Gian phòng được bố trí theo một kiểu khá đặc biệt với nhiều lối đi từ các phòng khác nhau dẫn chung đến giữa gian. Các quầy bar được thiết kế trong hai gian phòng, còn tại ba phòng khác có gì đó giống như phòng đợi hay khu vực dành cho VIP đã được đám nhân viên quảng bá tiếp thị Matxcơva đổi tên cho phù hợp với kiểu Nga. Ở đó lù lù đám người quen của mấy tay quản lý nhà hàng, đám đàn bà con gái trông khá bắt mắt, bạn bè của mấy tay tổ chức hay đơn thuần là đám khách đang cần ve gái. Nói chung ở đây khá thuận tiện nếu tính đến sự quá tải thường xuyên của mấy phòng vệ sinh. Ở giữa gian, ban nhạc đang chơi trong khi dân tình nhảy nhót hay làm bộ ưỡn ẹo mà nếu xét về mặt tiêu chuẩn xếp hạng, chắc chắn cái đám người này không một ai có thể được lọt vào khu vực dành cho VIP. Nói chung, đó chỉ là đám dân say, hoặc nói đúng hơn là đám nhiều tiền rửng mỡ đang trở thành đối tượng chính nuôi sống cái nhà hàng này. Những kẻ như vậy không chơi bời, nhậu nhẹt nhưng lại rất muốn được nếm trải mùi đời trong đó, để có cái mà kể lại cho đám người quen ngớ ngẩn của mình về tất cả những câu chuyện lạ lùng trong cái thế giới phù thủy của Matxcơva về đêm này. Và để bước chân vào thế giới huyền diệu này, đ được có mặt bên cạnh những Ksiusa, những Peti hay Ulian, đám đông này buộc phải mở hầu bao.

Bất cứ một quán barnhà hàng nào ở Matxcơva mà nếu như ông chủ của nó là dân tỉnh lẻ đến từ chốn khỉ ho cò gáy nào đó đang muốn mở một nhà hàngnơi mà đám nhà giàu rửng mỡ của Thủ đô thích đến để thưởng thức món đặc sản vùng sơn cước, cũng thường được xây dựng theo mô hình sau.

Ban đầu, cuộc nhậu nhẹt chơi bời được tổ chức cùng với đám dân chuyên ăn đêm, những tay nghệ sĩ DJ hay đám đồng cô đồng cậu mô đen. Rồi tự dưng có thêm các quý bà nửa mùa đang vật vờ kiếm thêm vài liềuxịncho cuộc chơi đêm nay, hay theo cách gọi của tôi là đám gái thuộc diệncủa giời cho”. Và dĩ nhiên là chẳng có mống nào trong những đám người nói trên có tiền trong túi. Họ có thể nốc sâm banh hay gọi dăm tách cà phê, song chẳng thể nào biến các ông chủ nhà hàng thành triệu phú được. Bù lại, họ có thể buôn chuyện theo lốiPR miệng”, để rồi câu chuyện này được truyền đi khắp thành phố với sự trợ giúp đắc lực của hệ thống đài truyền thanh mà thực tế nội dung của nó chỉ có bấy nhiêu chữ: “Có một cửa hàng được khai trương. Thực khách ở đó chỉ rặt người của ta”.

Sau đó thì đám đàn ông rủng rỉnh tiền bạc tìm đến, và cái đám đàn ông này sẽ xuống tiền chiêu đãi các quý bà, quý cô ăn kiêng bằng những bữa tối đắt tiền giàu calo kèm thêm rượu vang hay sâm banh. Và như vậy, cái liên minh mới này chính là nguồn thu chủ yếu của nhà hàng.

Duhless (dịch sang tiếng Việt là Vô hồn) – dày trên 300 trang – kể về cuộc sống của giám đốc một tập đoàn tư bản ở Nga vào thập niên 90, một kẻ ăn chơi không tên, một cư dân “ cổ cồn trắng” thế hệ 7X năng động, thành đạt nhưng chán chường tất cả những gì thuộc về thế giới thời thượng.

Tác giả cuốn sách Sergey Minaev không ngờ rằng, tác phẩm của mình đã gây xôn xao dư luận tại Nga khi liên tục giữ vị trí quán quân trong bảng danh sách những cuốn sách bán chạy nhất. Điều thú vị là, tầng lớp độc giả của cuốn sách khá đa dạng, không chỉ có lớp trẻ trong độ tuổi 20-30 mà còn có các “thượng đế” tuổi teen, thậm chí là các cụ già hưu trí. Suốt từ tháng 3 cho đến tháng 12/2006, Duhless đã trở thành một “căn bệnh” có tốc độ “lây lan” một cách đáng sợ trong cộng đồng văn hóa đọc tại Matxcơva và Saint Peterburg.

Bản dịch tiếng Việt cuốn Vô hồn sẽ ra mắt độc giả Việt Nam vào ngày 11/6/2007. Sách do NXB Trẻ độc quyền in và phát hành trên cả nước.

Rồi đám khác lại đến theo cái hiệu ứng “PR miệng”. Lũ ngố nào đó mua tờ tạp chí hay xem truyền hình về đề tài cuộc sống của giới thượng lưu thành phố và mơ ước được đặt chân vào những chốn ăn chơi để rồi trở thành nguồn thu đáng kể cho nhà hàng. Họ sẵn sàng móc hầu bao chi đẹp cho các khoản ăn chơi để rồi kể lại cho đám bạn bè, người thân của mình về những bữa tối ở nhà hàng đó, cậu biết không, chúng tớ ngồi cạnh một con ngố, ôi, ngố không chịu nổi! Chân thì cong nữa chứ!”, và nghiễm nhiên trthành những thành viên cao cấp nhấtquận mình trong vòng nửa năm tới. Dĩ nhiên, căn bệnh điên lây này sẽ diễn ra không chỉ một vài tháng và cứ lặp đi lặp lại mỗi khi có một nhà hàng tương tự như vậy mở tiệc khai trương. Và rồi cái mô hình này cứ lặp đi lặp lại mãi đến vô tận.

Tôi đang đứng giữa gian phòng và gia nhập vào nhóm nam nhi ăn mặc com- lê bảnh chọe. Cái đám này chỉ chơi loại rượu đắt tiền, một vài gã hút xì gà và làm ra vẻ là thương gia hạng xịn. Trên thực tế thì họ đang đảo mắt ngắm xem là sẽ kết với ai đêm nay. Tôi chào một ai đó trong đám họ, rồi đám ấy lại giới thiệu tôi với một nhân vật nào đó, và tôi bắt chuyện một cách vu vơ hoặc làm ra vẻ ngô ngố lắng nghe nhận định của gã nửa người nửa ngợm nào đó về khả năng xảy ra khủng hoảng như năm ngoái. Rồi tôi cũng hùa theo bằng vài ba câu đại loại về tình hình kinh tế nước nhà.

Trên tường đối diện với chỗ chúng tôi đứng có treo một chiếc gương to, và nó phản chiếu cả đám chúng tôi trong đó. Tôi nhìn vào gương và nghĩ rằng, nếu như cả đám quay lưng lại với chiếc gương, có lẽ tôi chẳng thể nhận ra bản thân mình trong số năm gã súc sinh đê tiên đó, bởi lẽ chúng tôi quá giống nhau, từ bộ com – lê kẻ sọc cho đến những chiếc ly rượu trong tay. Thậm chí cử chỉ, điệu bộ của chúng tôi cũng y hệt nhau. Điều duy nhất có thể giúp phân biệt lũ chúng tôi trong bức ảnh thu nhỏ ấy – đó là chiều cao của từng người, cho dù xét về khía cạnh này, chúng tôi cũng cao sàn sàn như nhau. Hoặc do cảm giác chung, hoặc do đã nốc vào bụng vài xị whisky, nhưng tôi vẫn cảm thấy rằng sự quan sát của mình là sắc sảo, cho dù thực tình mà nói, đó chỉ là một thứ cảm giác hoàn toàn ngớ ngẩn và được sản sinh ra từ cái thế giới nào đó của những đám người vô tính…”

“… Sự ham thích đối với những chương trình giải trí như thế này đương nhiên chỉ xuất hiện ở cái đám khán giả với trình độ văn hóa lùn.  Tôi cứ nghĩ rằng, nếu như bóc trần cái bằng cấp học vị trung cấp của đám khán giả nơi đây, có lẽ sẽ cho kết quả rằng trình độ của các vị thực sự chỉ xứng đáng với những gì người ta giảng dạy năm thứ nhất trường trung cấp dạy nghề hoặc “chỉ số trí tuệ thấp hơn chiếc ghế đẩu”. Có nên nói chuyện với cái đám nửa mùa này về các tác phẩm nghệ thuật hay không, nếu như điều này chỉ được dẫn sơ sài ở vài trang cuối cuốn giáo trình trong chương trình phổ thông?  Mà chắc chắn là những điều này đã bị lãng quên lâu rồi. Thật nực cười, nhưng sự thật vẫn cứ là sự thật: trong các cuốn cẩm nang du lịch ở Nga chuyên hướng dẫn tour Paris và Milan với khoảng 50 trang mô tả về khách sạn, cửa hàng, vũ trường, người ta dành khá nhiều giấy mực đề nói kỹ càng về các mẫu quần áo thời trang mới, trong khi chỉ có vài ba trang lèo tèo đề cập đến giá trị văn hóa của những thành phố này.  Trên thực tế, mỗi một công dân Nga rất dễ dàng dung thứ cho bạn vì sự thiếu vắng địa chỉ viện bảo tàng Prado trong cuốn danh bạ kia và buộc tội bạn, nếu như bạn không chỉ ra trong đó địa chỉ của cửa hàng bán đồ thời trang “Prada”. Bởi vậy mà cái đám tín đồ của các chương trình văn nghệ văn gừng đang bị hút vào những tay họa sĩ, những nữ thi sĩ hoặc các người mẫu dính đầy keo dán. Cái này được gọi là “nghệ thuật Nga kiểu mới” mà cái tên khác có lẽ họ không biết, và bởi thế cho nên họ sẵn lòng thưởng thức vở ba lê của cái đám dở ông dở thằng này.

Có ai đó vỗ vào vai tôi từ phía sau. Tôi quay lại. Té ra là Xasha – gã người quen của tôi, một chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo, một kẻ chơi gái có hạng và là một  tay ăn nhậu khét tiếng. Bên cạnh gã là hai cô bé khá dễ thương, trong đó có một em trông hay ra phết. Em này ngực to, chân thon đều đặn. Vào cái lúc đang say mèm thế này (trong suốt buổi trình diễn chó má này, tôi đã kịp nốc ba xị whisky), tôi chỉ có thể đánh giá được những cái thứ đó trên cơ thể cô nàng. Xasha bắt đầu nhảm nhí bằng câu “đủ rồi, không ngắm nhìn cái thằng đồng cô này nữa”, nhân tiện giới thiệu tôi với hai cô bạn gái và  quan tâm đến một trong hai gian dành cho VIP. Chúng tôi ngồi phịch xuống đi văng và  tôi để ý thấy rằng, cuối cùng thì mình cũng đã rời khỏi vòng kiềm tỏa của gã đại  diện thị trường truyền thông béo ú. Gã bồi bàn bê sâm banh và sushi đến mời tôi, tôi quẳng chiếc thẻ VIP cùng thẻ tín dụng vào cuốn thực đơn bằng da cho gã và nói chung là rất hả hê thỏa mãn với tình trạng hiện tại….”

“…Và đám người quen của chúng tôi cũng quay trở lại. Chúng tôi tiến đến chiếc đi văng của mình. Mấy cô nàng sành sỏi nốc cả chai sâm banh ngay trước mặt lũ đàn ông chúng tôi rồi ngồi nhìn chúng tôi bằng ánh mắt gợi tình dâm dật. Tôi ngồi xuống cạnh cô em mà ngay từ đầu nhìn đã thấy hay mắt và hôn nàng. Cứ thế, chúng tôi làm cái trò sờ soạng, hôn hít nhau, cô nàng mơn trớn vạt quần áo của tôi và mở khuy áo, thò bàn tay có những chiếc móng dài xoa khắp ngực tôi. Tôi nhẹ nhàng mân mê đầu vú của cô ả và hiểu rằng, bữa tiệc tối nói chung là thành công. Tự dưng tôi cảm thấy muốn uống thêm chút nữa trước khi hú hí cùng nàng. Tôi rời mắt khỏi nàng để tìm thằng cha nhân viên phục vụ. Xasha đã mất hút cùng cô nàng thứ hai.

Người ta mang thêm sâm banh đến. Chúng tôi cụng ly, và cô bé của tôi đang bắt chuyện. Cô nàng có vẻ hơi lúng túng, và cũng chẳng cần phải mào đầu, tôi đã kết với cô ta. Cô ta đưa tay luồn vào tóc tôi và bắt đầu nói rằng tôi và Xasha (chẳng hiểu sao cô nàng cứ gọi Xasha là Phedia) nói rất đúng và những điều đó thật là kinh khủng, rằng tất cả đám bạn gái của cô ta đều trở thành đámnghiện ăn diện” (theo cách diễn đạt của cô nàng) và say mê nhãn hiệu “Gucci”, dù rằng cô nàng chẳng hiểu cái đếch gì về chuyện này và còn có các giá trị khác (ví dụ như chuyện tình dục chẳng hạn mà tôi đ ý thấy), và nói chung cái mácGuccicũng chẳng làm cô ta thích thú chút nào, có lẽ cô ả chỉ thích mua cái đồng hồ là xong thôimà cái này thì Xasha đang đeo.

Tôi lắng nghe cô nàng và mỉm cười rồi lắc đầu, và mặc dù tôi biết tỏng cô nàng nghĩ gì, cần gì, trong người cảm thấy hơi bực bội khi nghe thấy những câu nhảm nhí hồ đồ này.

Rồi bỗng dưng cô nàng chuyển đề tài Gucci sang chuyện khác:

Này, có lẽ chúng ta đi thôi anh! Tiện đường, ta sẽ ghé qua nhà con bạn em, em cần trả tiền nợ nó hôm nọ, mà ngày mai nó đã phải trả cho người khác. ANH CÓ MANG THEO HAI TRĂM ĐÔ LA KHÔNG?

Cả cái đề tài này sao mà thối thế và đồng thời cũng chẳng đúng lúc tẹo nào khiến tôi cảm thấy kinh tởm. Một câu đề nghị chó má mà lẽ ra ngay từ sáng tôi nên quẳng cho cô nàng chỗ tiền này dưới cái vỏ bọc yêu đương vờ vịt. Nhưng bây giờ, đặc biệt là sau những ồn ào về các giá trị khác”, việc quay trở lại với cái thứ người giả dối này có lẽ  là chuyện không thể nào xảy ra. Có cái gì đó vỡ vụn trong tôi khiến tôi chẳng còn muốn đi đâu cùng cô ả nữa, và tôi hiểu rằng, giải pháp tốt nhất lúc này là trốn chạy khỏi cô ta càng nhanh càng tốt, cho dù lúc này cả người tôi đang phừng phừng lửa dâm dật. Tôi gật đầu và giả bộ là mình cần phải chào Xasha trước khi ra về rồi đứng dậy và đi thẳng. Cô nàng mở túi xách và bắt đầu tìm kiếm cái gì trong đó. Có lẽ cô nàng đang muốn tút sửa lại chút cho ra vẻ sexy hơn, nhưng đối với tôi bây giờ mọi thứ chẳng còn nghĩa lý gì.

Tôi quay trở vào gian chính và nghĩ về việc làm thế nào để chào từ biệt Xasha, kẻ đã thiết kế cho tôi cái bữa tiệc thật thú vị này. Không thấy hắn trong gian phòng, cạnh nhà vệ sinh cũng chẳng thấy. Tôi đảo quanh một vài gian VIP khác. Và đúng như tôi dự đoán, hắn đang ở trong một căn phòng VIP gần ngay lối đi tới quầy bar. Xasha đang nằm ngửa trên đi-văng, trong tay là điếu thuốc lá tắt ngóm, tay kia vuốt tóc một cô bé có mái đầu cắt ngắn. Ả này đang vuốt ve bú mút dương vật hắn ta. Tôi tiến đến gần, thậm chí còn không nghĩ rằng mình đang làm phiền hắn (tôi đang say khướt mà), và chờ hắn mở mắt.

Tôi quan sát cô bé nằm bên cạnh Xasha và…hiểu rằng, mẹ kiếp, chẳng phải con bò cái nào sất, mà là hoàn toàn ngược lại. Một thằng cha trẻ tuổi nào đó với bộ mặt gian xảo lén lút, đang mõi tiền thằng bạn thân của mình, còn Xasha thì đang rên rỉ! Mẹ kiếp! Tôi có những thằng bạn tốt như vậy đấy. Rồi Xasha cũng mở mắt ra, mỉm cười với tôi và đặt hai ngón tay lên miệng thả chiếc hôn gió tặng tôi. Tôi vẫn thường áp dụng cái cử chỉ gượng gạo chỉ có diễn ra đâu đó bên bờ biển Pháp quốc mỗi khi chào hỏi đám gái gú. Còn trong trường hợp này, cái cử chỉ đó như muốn làm nổ tung cái đầu tôi. Chịu không nổi, từ phòng VlP, tôi chạy lướt qua quầy rượu hướng ra cửa chính rồi thoát ra ngoài phố.

Tôi châm thuốc hút và cố tránh xa cái chốn quái đản này. Khi đã đi được khá xa, trong đầu tôi xuất hiện ý nghĩ bắt tắc xi đi về nhà. Tôi giơ tay vẫy xe, và lập tức, một chiếc tắc – xi màu vàng trờ tới. Tôi nghĩ rằng, chắc bây giờ mình lại đụng phải một gã lái xe hà tiện  bủn xỉn và tốt nhất là nên bắt một chiếc xe tư, tuy nhiên, chẳng hiểu sao vẫn cứ chui vào chiếc tắc -xi ngồi và dông thẳng.

Dọc đường, tôi quan sát thành phố về đêm và nôn nao vì rượu, mắt như mờ đi, và tôi có cảm giác rằng wishky thật là nặng. Tôi cố lấy sức và nhìn qua cửa sổ, châm thuốc hút và nghĩ rằng, về bản chất, chẳng có điều gì xảy ra cả. Cuối cùng thì tôi cũng chẳng phải là loại đàn ông khốn nạn gì. Rồi tôi cũng chợt khám phá ra rằng, mình rất thích lượn lờ, lang thang trong cái thành phố này vào ban đêm, ngắm nhìn những ánh đèn, xe cộ, cả những đám gái điếm đứng bắt khách trên các con phố. Tiếp theo sau cái ý nghĩ về đám gái ăn sương này, tôi nhớ lại cô nàng trong nhà hàng, muốn phỉ nhổ vào cái thứ rác rưởi đó và nghĩ rằng, người đời nói đúng, các cô tiểu thư thủ đô thật thà chất phác ngàn lần quý giá hơn đám gái gọi cao cấp chân dài. Cảm giác trong tôi nói chung là khá mâu thuẫn nhau, đôi khi tôi có cảm giác mình thật hèn hạ, đê tiện và đôi khi lại cảm thấy buồn vô hạn.

Và bỗng nhiên, tôi bật khóc. Thật tự nhiên, những giọt lệ cứ lăn dài trên má, tôi lấy vạt áo khoác lau nước mắt, hệt như một ả điếm ngoài ga tàu đang lau lớp cọ chải mi rẻ tiền bị nhòe trên mắt vậy. Cổ họng tôi khò khè và mũi thì lì xì lệt xệt.

Thật lạ lùng, tôi có cảm giác mình giống như một kẻ mặt trơ trán bóng, vô liêm sỉ  và điều này chẳng khiến tôi ngạc nhiên chút nào. Còn để mà rơi lệ thì có lẽ chỉ là trong giấc mơ mà thôi.

Dường như tôi đã nhìn thấy cả cái thành phố này hàng nghìn lần rồi, với tất cả những gì huyên náo và ồn ào, bừa bãi. Nơi đó có những ả điếm bán mình chỉ sau dăm phút hành lạc trong nhà vệ sinh hoặc sau mười lăm phút hú hí với khách chơi ở nhà — ở đâu không quan trọng mà nói chung là còn phụ thuộc vào nhãn mác đồng hồ bạn đeo trên tay khi đó. Nơi đó có những kẻ bán mình sẵn sàng hất đổ bất cứ mọi dự án hợp tác kinh doanh nào chỉ với mấy gờ ram cocain. Nơi đó có đám bạn bè sẵn sàng phản bội bạn chỉ trong vài tích tắc giữa hai lần nâng ly. Nơi đó có nạn đồng tính nam, cả về lý thuyết lần thực hành. Nơi đó có đám người dặt dẹo mang căn bệnh hủ lậu trong tâm hồn. Cứ mỗi một lần chờ đợi điều gì đó từ trong tâm hồn đám người xung quanh, và mỗi một lần như vậy, khi có điều gì đó tương tự xảy ra, tôi lại có cảm giác mình giống như một thằng khốn nạn. Có thể cảm giác như thế chỉ tồn tại ở những kẻ đã nướng hết sạch tiền bạc vào trò đỏ đen trên tàu với gã “bạn” đồng hành tình cờ. Dường như tất cả đều hiểu rằng, dính vào trò cờ bạc với kẻ lạ trên tàu là cầm chắc chuyện thua tới 99%, vậy nhưng, vì sao những kẻ này lại không dứt được ra khỏi cuộc đỏ đen như vậy để khi đã cháy túi, trong suốt một thời gian dài, họ luôn có cảm giác rằng mình thực sự là kẻ điên khùng, khốn nạn?

Tôi ngồi trong tắc – xi, hút sang điếu thuốc thứ năm, lau nước mắt và nghĩ về tất cả những điều đã xảy ra. Trong một khoảnh khắc nào đó, ánh mắt tôi chạm vào mắt gã tài xế trong tấm gương hậu của xe. Gã hỏi tôi bằng cái giọng ngọt xớt: “Anh gặp chuyện gì vậy? Có cần giúp đỡ gì không?” Tôi thừa hiểu, gã hỏi để lấy lệ thôi, và tôi đáp rằng, chẳng có chuyện gì xảy ra sất, mọi chuyện bình thường. Gã còn len lén cố tỏ ra thông cảm với tôi, và rồi cuối cùng thì chiếc xe cũng đưa tôi về đến nhà.

Bước ra khỏi xe, tôi chìa cho gã 200 rúp (giá trung bình từ trung tâm về đến nhà tôi), nhưng gã tài xế lại nói thòng thêm câu gì đó đại loại như “thường thì người ta cho tôi 300 kia”. Tôi định ném cho gã cái nhìn khinh bỉ, mà trong trường hợp này thì đó là điều có thể và chìa ra thêm một trăm nữa. Vừa bước tới cổng tòa nhà, một lần nữa tôi lại thầm cổ súy cho cái gọi là sự đê tiện, tầm thường, dung tục của thành phố này và để ý thấy tất cả sự ranh mãnh điển hình của đám vô sản xung quanh – cái đám sẽ áp tải bạn trong tình trạng máu me đầy người đến cái bệnh viện nào xa nhất trong vòng mười lăm phút, rồi sẽ an ủi bạn dọc đường và nhận tiền công lao động của mình từ đôi bàn tay cứng đờ của bạn với giá gấp đôi so với quy định.

Tôi đi bộ lên tầng mình ở với những suy nghĩ như vậy rồi bước vào phòng, cởi giày, cứ nguyên xi cả quần áo như thế leo lên giường và nằm úp mặt vào gối.

Chúc ngủ ngon, Matxcơva!

(Còn tiếp)


Để có lớp trí thức xứng đáng

December 18, 2008

Thời thế tạo anh hùng thì cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người trí thức. Nói rõ hơn là hoàn cảnh chính trị xã hội, là bản lĩnh, tài năng các nhà lãnh đạo quốc gia, và một phần chính yếu, là môi trường giáo dục đương thời. Cho nên tôi rất tán thành hãy bắt đầu bằng vấn đề giáo dục để bàn chuyện xây dựng lớp trí thức mới.


Về triết lý giáo dục

Sau nhiều năm Phần Lan nổi lên với những thành tựu kinh tế, khoa học, công nghệ làm cả thế giới khâm phục, người ta phát hiện ra cái gốc của sự thịnh vượng ấy là giáo dục. Ba phần tư thế kỷ qua, nước Mỹ đã chiếm vị trí số một trên hầu hết mọi lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt. Nếu nói trí thức là nói tài năng thì không đâu tài năng nở rộ nhiều như ở Mỹ. Nhiều người chúng ta bất bình, phẫn nộ chính đáng với một số chính sách nước lớn có khi quá tàn bạo của giới cầm quyền Mỹ, song vẫn chưa bao giờ hết ngưỡng mộ trí tuệ và tài năng của trí thức Mỹ mà những mầm mống thịnh vượng đã nảy nở từ những đại học đầu tiên khi Mỹ mới lập quốc. Đọc thư của Tổng thống Pháp gửi các nhà giáo Pháp, đọc bài diễn văn nhậm chức của bà Chủ Tịch ĐH Harvard, càng thấy rõ vấn đề trí thức nói cho cùng là vấn đề giáo dục. Nước Pháp muốn khôi phục truyền thống văn hóa rạng rỡ của mình từ Thế kỷ Ánh sáng, nước Mỹ muốn tiếp tục dẫn đầu trong thế kỷ văn minh trí tuệ, đều thấy cần dựa vào trụ cột giáo dục. Mà trong giáo dục thì quan trọng trước hết là tư duy cơ bản về giáo dục, tức là triết lý giáo dục, đương lối giáo dục.

Khi góp ý kiến về chính sách trí thức cách đây không lâu tôi có đề nghị không nên đi sâu phân tích các yếu kém khuyết điểm của trí thức đang làm hạn chế sự đóng góp của họ vào công cuộc chấn hưng đất nước, mà nên suy nghĩ xem vì đâu dân tộc VN vốn thông minh không kém nhiều dân tộc khác, mà chí khí kiên cường càng không nhường ai, lại chưa có được một tầng lớp trí thức xứng đáng với dân tộc?

Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức VN qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách, thế hệ trí thức những năm 30-45 thế kỷ trước– thời kỳ Tự lực Văn đoàn, trào lưu Thơ mới, có các nhạc sĩ Văn Cao, Đặng Thế Phong, có các nhà khoa học, giáo dục hiện đại Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đức Thảo, có những nhà hoạt động chính trị Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh…  Hầu hết những trí thức này đều học trường Pháp ra, mà sao tinh thần dân tộc rất cao và năm 1945 tuyệt đại bộ phận họ đều đi theo cách mạng để chống lại thực dân Pháp. Điều đó tựa hồ mâu thuẫn với quan niệm phổ biến xưa nay là nhà trường thực dân chỉ cốt đào tạo ra những người làm tay sai cho thực dân.

Trong khi đó, các thế hệ trí thức được đào tạo sau này ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ một cách bài bản, lớn lên trong nền giáo dục thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, hằng ngày được gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, ghét bóc lột, xả thân vì dân vì nước… mà sao có vẻ như phẩm chất không được như ta kỳ vọng. Dường như có cái gì không thật, có cái gì chưa ổn lắm, cho nên gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì bộc lộ nhiều nhược điểm. Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư và gần đây rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở VN, nhưng nếu muốn trưng ra thì cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả nghìn viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những “bộ óc vĩ đại thế kỷ 21”, nhiều nhân vật trí thức xuất chúng đến nỗi đang có kế hoạch phải dành 25 hecta đất vào thời buổi đất quý hơn vàng, để xây một Văn Miếu hiện đại mới đủ chỗ vinh danh bấy nhiêu bậc đại trí. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh khi đất nước đến hồi hưng thịnh?

Đó là cái nghịch lý cần phân tích và lý giải khi bàn về giáo dục và đào tạo.

Riêng tôi nghĩ rằng nền giáo dục, văn hóa Pháp mà thế hệ trí thức tiền bối 30-45 đã được hưởng thật sự là một nền giáo dục tiên tiến thời đó. Cái phần thực dân trong nền giáo dục ấy chỉ là cái vỏ ngoài do bọn thực dân áp đặt ở thuộc địa mà cũng chỉ có tác dụng rất hạn chế, còn cái phần nhân văn,  cái phần văn hóa cơ bản, cái phần thật sự là tinh túy trong triết lý giáo dục của nó thời đó thì ai tiếp thu được đều tốt cho họ, cho đất nước họ, cho nhân dân họ, không cứ là cho người Pháp, cho nước Pháp. Có lẽ chính vì nhìn thấy điều ấy mà Phan Chu Trinh đã sáng suốt đề ra: hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Giờ đây khi mà văn hóa, giáo dục đã lệch pha quá xa với kinh tế, đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về đường lối, triết lý giáo dục, chứ không phải chỉ bàn chuyện nay hai không, mai năm không, v.v. Những việc này cũng cần làm để khởi động dạo đầu cho công cuộc cải cách, nhưng sa đà vào đó mà quên đi cái cốt lõi sẽ có tác dụng ngược lại.

Không thể máy móc vơ đũa cả nắm, nhưng có một sự thật là dường như phần lớn những cán bộ được đào tạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều thiếu căn bản về văn hóa phổ quát. Tư duy của họ chỉ phát triển theo một đường ray mà hễ ai trật ra là nguy hiểm. Cho nên trừ những trường hợp hãn hữu, họ thường chỉ là những chuyên viên kỹ thuật được trang bị một số vốn kiến thức kỹ thuật, chuyên môn hẹp nào đó, ở thời đó, và cũng rất mau lạc hậu, nhưng thiếu một nhãn quan rộng, thiếu một tầm nhìn ra ngoài ngành nghề hẹp của mình, cho nên bị hạn chế ngay trong việc phát triển chuyên môn, và càng bị hạn chế đứng trước những vấn đề xã hội, văn hóa không thuộc phạm vi chuyên môn hẹp của mình. Mỗi người chỉ biết việc của mình, chỉ lo cho mình, ít khả năng và cũng không thích thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp. Dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức VN. Chưa bao giờ trong xã hội ta có nhiều Xuân Tóc Đỏ như bây giờ. Tôi nói có vẻ bi quan, nhưng thà nhìn khắt khe một chút để biết người biêt ta, còn hơn nhắm mắt chủ quan một cách lố bịch.

Những sai lầm làm tha hóa giáo dục.

Trở lại vấn đề giáo dục hiện nay của ta, điều tôi lo lằng nhất là sự tha hóa trầm trọng của nó. Nói khủng hoảng nhưng nét chính của khủng hoảng ấy là sự tha hóa, biến chất. Giáo dục có nguy cơ trở thành phản giáo dục. Có nhiều nguyên nhân nhưng trực tiếp làm tha hóa giáo dục có ba sai lầm lớn mà tôi gọi là sai lầm hệ thống trong quản lý giáo dục.

Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng: gian dối, tiêu cực, dối trá, lãng phí, quan liêu… hiện đã đi vào xương tủy của giáo dục mà không một phong trào “nói không” nào có thể chữa trị được đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới sai lầm trong chính sách đối với người thầy.

1. Chính sách đối với người thầy. Đó là sai lầm đầu tiên và tai hại nhất do quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho thầy quyền uy tuyệt đối, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, là đúng. Nhưng từ đó đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của thầy đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực chuyên môn và đạo đức hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương. Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho thầy cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là do tham nhũng và sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các thầy cô “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hiếm giảng viên đại học dạy sô trên 30 giờ/tuần). Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng: gian dối, tiêu cực, dối trá, lãng phí, quan liêu… hiện đã đi vào xương tủy của giáo dục mà không một phong trào “nói không” nào có thể chữa trị được đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới cái lỗi hệ thống cơ bản này.

2. Tập trung tất cả việc dạy và học vào thi cử, nói rõ hơn là thay vì thi, kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả học tập vững chắc và thực chất thì dồn hết cố gắng vào các kỳ thi tốt nghiệp, thi “quốc gia” nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục VN: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Trước đây thi theo bộ đề thi cho sẵn, nay bộ đề thi biến tướng thành các bảng “cấu trúc đề thi”. Nghĩa là tư duy có thay đổi gì đâu, hai mươi năm trời, tốn bao công nghiên cứu, cuối cùng trở lại gần như điểm xuất phát, dưới một hình thức có vẻ mới để che dấu một phương pháp cổ lỗ. Lại còn chuyện thi trắc nghiệm, thi tự luận. Người ta thi trắc nghiệm với một mục đích khác, ta không nghiên cứu kỹ, đưa ra áp dụng đại trà vào thi tốt nghiệp THPT trong khi trình độ chuyên nghiệp về kiểu thi này còn chưa bảo đảm, cho nên gây tốn kém và làm khổ cả học sinh lẫn thầy giáo. Rồi đùng một cái cấm các trường không được áp dụng hình thức trắc nghiệm khi thi học kỳ, làm cả thầy và trò hoang mang, không hiểu giáo dục là cái gì mà có thể quản lý tùy tiện như thế. Đem việc học phụ thuộc vào việc thi, khiến thi chứ không phải học trở thành hoạt động giáo dục chủ yếu, đến mức muốn hiểu thực chất giáo dục VN như thế nào chỉ cần quan sát hoạt động của nhà trường và xã hội trong mùa thi. Từ kiểu thi nhiêu khê đẻ ra những dịch vụ kỳ lạ hiếm thấy: kỹ nghệ “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, bằng thật nhưng học giả, v.v. Cho nên chừng nào còn duy trì kiểu học và thi này thì xã hội còn phải trả giá nặng nề cho sự tụt hậu của giáo dục. Chưa kể nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi thì lãng phí lên tới con số khủng khiếp, bình thường đã khó chấp nhận, với tình hình kinh tế khó khăn như lúc này càng khó chấp nhận hơn. Nhiều nước như Trung Quốc hay Hàn Quốc, thi còn nhẹ nhàng hơn ta mà họ đã phê phán cái “địa ngục thi cử” của họ, còn thi cử như ta không biết phải gọi là cái địa ngục gì.

3. Chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế, khiến việc hội nhập khó khăn và không cạnh tranh nổi ngay với các nước trong khu vực. Đây chính là bệnh thành tích, chứ không là gì khác. Phát triển số lượng thì dễ, nhất là khi người dân còn khát học tập như trong xã hội ta. Chỉ đảm bảo chất lượng mới khó, vậy nên cứ chọn cái dễ mà làm, dễ gây ấn tượng, dễ báo cáo thành tích. Trên đã vậy thì làm sao chống được bệnh thành tích ở dưới. Trong hoàn cảnh ấy mà có người còn bênh vực bệnh thành tích, viện lẽ chỉ nhấn mạnh chất lượng lúc này là xa xỉ (!), thì thật không hiểu nổi ta muốn phát triển giáo dục và khoa học theo kiểu nào. Nguy hại là căn bệnh này nghiêm trọng nhất ở cấp đại học và đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn, công nhận GS, PGS. Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn hội nhập thành công, phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường nhất về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, cho đến việc tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trình nghiên cứu khoa hoc, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn, đánh giá GS, PGS, đánh giá các đại học… phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, nặng về cảm tính thô sơ, rất thấp và rất khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm thay vì phục vụ sự nghiệp chung. Sự thiếu hiểu biết và coi thường các chuẩn mực quốc tế thể hiện trong mọi chủ trương xây dựng đại học, cho đến gần đây nhất vẫn rất chủ quan. “Điếc không sợ súng” đó là căn bệnh cố hữu của ngành giáo dục.

Tất cả các sai lầm hệ thống nêu trên khiến giáo dục dần dần biến chất, xuống cấp, xa rời tất cả những giá trị cao quý còn sót lại từ quá khứ. Xu hướng tha hóa ấy phát triển có nguy cơ đẻ ra một nền giáo dục phản giáo dục.

Hoàng Tụy

Sự tha hoá của cái Tôi

November 22, 2008

Khuyết tật của đời sống hiện đại (Phần 1)

Những gì đã và đang xảy ra trên thực tế cho thấy nặng nề không kém so với hình thức nô lệ trước đây, thậm chí nếu xét về quy mô và ảnh hưởng là lớn hơn, vì tính chất của nó phức tạp và tinh vi hơn rất nhiều biến của một bộ phận lớn của nhân loại trong thế giới hiện đại.

Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét và phân tích về chúng.

Khuyết tật 1. Sự tha hoá của cái Tôi

Ở một bộ phận lớn của thế giới là khu vực chậm phát triển, hiện tượng cái Tôi tha hóa xảy ra rất phổ biến. Vậy có mối liên quan nào giữa sự tha hóa này với trạng thiếu tự do không? Theo quan điểm của tôi, chính sự thiếu tự do đã khiến cho đời sống tinh thần của con người trở nên mất cân bằng và do đó tạo ra sự tha hóa của cái Tôi.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì Tự do là nguồn gốc sự phát triển của con người. Khi con người không có các quyền tự do thì dần dần con người sẽ đánh mất những kinh nghiệm về tự do, mất ý chí đòi tự do cũng như mất cảm hứng sử dụng tự do như là phương tiện để phát triển các giá trị tinh thần của mình. Nếu không có tự do thì con người không có tiền đề không có không gian tinh thần đầy đủ, không có sự sạch sẽ tâm hồn để tiếp nhận tất cả các khả năng để phát triển, tức là không có năng lực. Sự hạn chế của không gian tự do bên ngoài và bên trong đã làm cho cái Tôi tha hoá mà biểu hiện rõ rệt nhất của nó là sự mất mát năng lực. Tôi cho rằng đây là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nếu không chúng ta vẫn tiếp tục xây dựng xã hội bằng những viên gạch hỏng mà không lý giải được tại sao xã hội không phát triển. Thực tế ở nhiều quốc gia lạc hậu cho thấy, sự tha hoá của cái Tôi là kết quả của một đời sống tinh thần phát triển không lành mạnh dưới tác động của sự ràng buộc của tư tưởng, sự bao vây của văn hóa lạc hậu, sự níu kẻo của nghèo đói và trên hệ là sự cai trị của nhà nước. Tất cả, những yếu tố như vậy xuất hiện trong mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, văn hóa, chính trị cho đến giáo dục, làm cho con người trở nên lệch lạc và kết quả là con người không còn đủ các năng lực để thích nghi với cuộc sống.

Bài viết trích trong cuốn Tiểu luận mới “Cội nguồn cảm hứng” của tác giả Nguyễn Trần Bạt, NXB Hội nhà văn.

Khi đặt bút viết quyển sách này, tôi như con chim hót những tiếng hót được khích lệ bởi âm thanh tự do của các bậc tiền bối như John Locke, Baron de Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, John Stuart Mill… Những tiếng hót ấy còn mang âm hưởng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc có lịch sử lâu dài, quyết liệt trong việc giành tự do. Những tiếng hót ấy chất chứa tình yêu đối với con người và thân phận con người. Những tiếng hót ấy là sự trăn trở trong quá trình đi tìm những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống con người và sự hình thành các giá trị con người. Tôi viết bằng cả tấm lòng của mình, bên ngoài mọi động cơ, kể cả động cơ hàn lâm…”

Trên phương diện kinh tế có thể thấy nền kinh tế chịu sự áp đặt của các quan điểm chính trị, được mô hình hóa bằng tiêu chuẩn chính trị mà không phải bằng các tiêu chuẩn, hay các đặc thù kinh tế. Trong các mô hình kinh tế này, có không ít mô hình được lựa chọn dựa trên những quan điểm chính trị khác biệt, mâu thuẫn với sự phát triển tự nhiên của đời sống kinh tế. Sự lựa chọn mô hình kinh tế theo những tiêu chuẩn chính trị được dẫn hướng bởi một hệ tư tưởng cố định đã kéo theo hậu quả là trói buộc thân phận của các dân tộc vào những quan điểm chính trị cụ thể, làm mất tính năng động, tính tự do của các lực lượng kinh tế và ảnh hưởng sống còn đến đời sống phát triển. Hệ quả của nó là con người chuẩn bị toàn bộ các năng lực của mình theo tiêu chuẩn của nền kinh tế mà nhà cầm quyền định xác lập và khi mô hình kinh tế ấy sụp đổ, nhường chỗ cho một loại hình kinh tế khác thì toàn bộ năng lực đã chuẩn bị của con người trở nên không tương thích với những đòi hỏi mới. Nhìn trên phương diện chính trị, chúng ta có thê thấy rất rõ sự cai trị của các nhà nước. Tất cả các mặt đời sống của con người đều bị áp đặt theo một khuynh hướng được qui định bởi lý tưởng chính trị của những người cầm quyền. Chính việc bị áp đặt bởi một khuynh hướng và nhất là khi nhu cầu chính trị của khuynh hướng ấy có sự khác biệt với nhu cầu phát triển của đời sống đã gây ra hiện tượng mất mát năng lực, thiếu hụt năng lực chính trị của toàn xã hội. Hệ thống chính trị sử dụng tất cả những phương tiện có trong tay để hướng dẫn con người chuẩn bị những năng lực phù hợp với nhu cầu chính trị của nó, tức là những thứ mà hệ thống chính trị cần chứ không phải là những thứ mà cuộc sống đòi hỏi. Đây là một hiện tượng khá phổ biến ở các quốc gia chậm phát triển về mặt chính trị, những nước mà đặc trưng cơ bản của nó là thiếu dân chủ, không có dân chủ.

Một vấn đề nữa của các nước chậm phát triển là có nền văn hóa vừa lạc hậu vừa phi tự nhiên, do đó, nó ảnh hưởng đến sự phát triển về mặt tinh thần của con người. Văn hóa luôn có tính lạc hậu tương đối, nếu nó không cởi mở và tiếp nhận tự nhiên các yếu tố mới, nó sẽ tự xơ cứng và không thể trở thành môi trường tốt cho sự hình thành các giá trị cá nhân. Sự lạc hậu của văn hóa là do tính khép kín của nó, còn tính phi tự nhiên của văn hóa là do sự áp đặt chính trị của tập đoàn cầm quyền. Trong những nền văn hóa đó, con người được hướng dẫn, được tuyên truyền những tiêu chí đạo đức, tiêu chí năng lực, tiêu chí khoa học công nghệ, tiêu chí chính trị một cách máy móc và xem những tiêu chí ấy như những tiêu chí ấy hoàn toàn không thể thay đổi được, vừa có giá trị điều khiến, vừa có giá trị lãnh đạo. Nhưng khi thực tế chứng minh rằng sự tuyên truyền ấy là nhầm lẫn, lý tưởng chính trị đó là nhầm lẫn và những tiêu chí ấy hoàn toàn không có giá trị phục vụ cho đời sống phát triển thì những xã hội hưởng thụ sự tuyên truyền ấy bỗng nhiên mất toàn bộ năng lực. Thế giới luôn biến đổi không ngừng. Xu thế toàn cầu hóa cưỡng bức mọi nền văn hóa phải mở cửa và không ai còn cơ hội để sống biệt lập cả. Vậy con người sẽ ra sao khi phải sống bằng những năng lực đơn giản và được chuẩn bị sai trong những điều kiện mới của thời đại?

Khi chính trị, kinh tế và văn hóa lạc hậu, tất yếu giáo dục cũng sẽ lạc hậu. Giáo dục là khâu trực tiếp giúp con người chuẩn bị năng lực của mình nhưng do sự áp đặt của chính trị mà ở các nước chậm phát triển, con người không được trang bị những kiến thức để rèn luyện những năng lực mà cuộc sống cần. Hệ thống giáo dục chỉ trang bị cho con người những kiến thức mà hệ thống chính trị cần, nhưng những kiến thức này không những lạc hậu mà còn hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu của cuộc sống. Xét về mặt triết học và chính trị học, chương trình giáo dục không có tính đa dạng cần thiết của khoa học nhận thức bởi vì nó chỉ dựa trên một loại triết học duy nhất, dựa trên một hệ tư tưởng cố định phù hợp với nhu cầu của hệ thống chính trị. Thời lượng trong chương trình giáo dục bị chiếm dụng một cách không thương tiếc cho những nguyên lý để duy trì sự ổn định của những khái niệm đã cũ. Người ta đã không xem người lao động như một thực thể con người với các quyền độc lập của nó. Đầu ra của hệ thống giáo dục này là lực lượng lao động thiếu năng lực hay có những năng lực không bán được trên thị trường lao động.

Sống trong những môi trường chính trị, kinh tế và văn hoá phi dân chủ, phi tự nhiên một cách lâu dài sẽ làm con người biến dạng, con người không có đủ cảm hứng và cũng không đủ năng lực để tạo ra giá trị, tạo ra cuộc sống của chính mình. Đó không phải là cuộc sống của sự tiến bộ mà là cuộc sống mất cân bằng hay bị tha hoá từ bên trong. Quan sát hàng ngày rất dễ thấy hiện tượng mất mát, thiếu hụt năng lực ở số đông con người trong các xã hội chậm phát triển. Có thể kể ra ở đây một số loại năng lực cơ bản, đó là:

Mất năng lực phản ánh sự thật:

Có thể nói sự tha hoá của cái Tôi chính là sự biến dạng, sự mất cân đối của hình ảnh cuộc sống trong tâm hồn mỗi con người thông qua nhận thức. Chúng ta đều biết, chất lượng của một tấm ảnh phụ thuộc vào chất lượng của máy ảnh, một cái máy ảnh tốt sẽ cho một tấm ảnh có chất lượng, một cái máy ảnh tồi sẽ cho một tấm ảnh hỏng… Tấm ảnh ấy bị hỏng tức là anh không chụp được một cách chính xác các cấu trúc của cuộc sống, anh có những dị tật mà vì thế anh nhận dạng cuộc sống một cách méo mó. Một trong những dị tật ấy chính là sự mất mát năng lực nhận thức và phản ánh cuộc sống trung thực như nó vốn có. Năng lực phản ánh sự thật là một trong những năng lực quan trọng nhất để xác lập ranh giới giữa cái Tôi lành mạnh và cái Tôi không lành mạnh.

Khi con người bị khuyết tật về mặt nhận thức thì mọi diễn biến cuộc sống bên ngoài khi phản ánh thông qua nó sẽ bị méo mó. Mặc dù trong con người luôn có bản năng phản kháng tự nhiên đối với những sức ép những biến dạng mà cuộc sống, xã hội, thể chế tạo ra nhưng do chịu sự áp đặt lâu dài nên khả năng đó không được rèn luyện và vì thế hệ miễn dịch của con người trở nên thoái hoá, còn người mất đi cả năng lực đề kháng trước những biến dạng mà văn hoá hay chính trị có thể gây ra. Sự mất năng lực đề kháng khiến con người trở nên bạc nhược, thiếu ý chí. Mất năng lực phản ánh sự thật nên con người cũng mất luôn cả năng lực rung động trên những đối tượng khác nhau. Những đòi hỏi của cuộc sống do đó được phản ánh một cách méo mó hoặc là không được phản ánh. Alfred de Musset, nhà văn lớn của Pháp từng thốt lên rằng tôi biết nhiều tác phẩm vĩ đại đôi khi chỉ là những tiếng nấc. Nhưng dường như ở những xã hội không tự do nơi con người tha hoá và lạc hậu về mặt nhận thức, không ai có thể nghe thấy những tiếng nấc, tiếng khóc của cuộc sống. Đó là một không gian tinh thần không có dấu hiệu con người.

Cái Tôi khi nhận thức sai sẽ gây hại cho chính nó, bởi vì, về cơ bản con người nhận thức và hành động cho những lợi ích của mình, cho nên, khi con người nhận thức sai, chụp ảnh cuộc sống sai thì con người tự dẫn mình đến những chỗ sai và tạo ra sự thất thiệt cho chính mình. Con người cố gắng sống một cách biệt lập, cố gắng không tương tác với thế giới bên ngoài, cố gắng đóng mọi cánh cửa để không có ánh sáng nào lọt vào, để không ai phát hiện ra tình trạng khuyết tật của mình. Việc đó diễn ra lâu đến mức con người không còn cảm thấy những khuyết tật của mình nữa. Chính điều đó đã tạo ra cái chết lâm sàng của đời sống tinh thần, tức là con người mất đi năng lực xúc động, năng lực nhận biết về cuộc sống, về chính bản thân mình, cũng như không nhận ra sự thoái hoá trong nhận thức của mình. Khi nhận thức sai, con người sẽ mắc phải sai lầm trong quá trình tương tác với xã hội. Những sai lầm đó sẽ tất yếu gây ra những thất thiệt cả về vật chất lẫn tinh thần cho con người.

Thiếu hụt năng lực xấp xỉ tương lai:

Nhận thức là sự phản ánh của chủ thể nhận thức về đối tượng nhận thức và trên một bình diện rộng lớn thì đấy chính là cuộc sống. Nhưng thông thường, trình độ nhận thức của con người không đo được ngay tất cả các khía cạnh của cuộc sống hay các giai đoạn, các trạng thái khác nhau của cuộc sống. Có những giai đoạn có những thành tố xuất hiện mà với kinh nghiệm tại thời điểm quan sát, con người chưa đủ năng lực để đánh giá đúng. Cho nên, trong nhận thức có một giai đoạn suy tưởng, tức là dùng trí tưởng tượng để hình dung về những đối tượng mới, những thành tố mới. Đấy chính là quá trình xấp xỉ tương lai của mỗi cá nhân. Con người luôn luôn cố gắng nhận thức một cách gần đúng tương lai của mình nhưng con người không đoán được hết tương lai mà luôn xấp xỉ tương lai và tương lai của con người phụ thuộc rất nhiều vào năng lực xấp xỉ ấy. Nghiên cứu sự lành mạnh của một xã hội cũng chính là nghiên cứu sự lành mạnh của quá trình hình dung hay xấp xỉ tương lai của mỗi cá nhân trong xã hội. Thiếu hụt năng lực xấp xỉ tương lai, con người sẽ trở nên mất phương hướng và tất nhiên họ sẽ không thể có sự cân bằng trong miền tương lai mà họ không có năng lực hình dung.

Ai cũng phải có một điểm nhìn, tức là phải nhìn thấy mình trong tương lai, khi con người không còn nhìn thấy mình nữa là con người đã chết về mặt tinh thần. Khi số đông nhìn thấy mình trong quá khứ thì xã hội không phát triển. Con người không có tương lai, quá khứ trở thành hình mẫu của tương lai; tương lai cấu trúc từ quá khứ, đấy chính là tha hoá. Quẩn quanh với những hình mẫu cũ, con người không có khả năng tưởng tượng hay không có khả năng sáng tạo thì đồng nghĩa với việc con người không phát triển. Tương lai là trạng thái ngày mai của con người mà hôm nào con người cũng phải có ngày mai của nó. Con người phải hình dung tương lai một cách liên tục mới là con người lành mạnh. Dấu hiệu quan trọng chứng minh sự không thoái hoá của cái Tôi là năng lực duy trì liên tục khả năng hình dung ra tương lai.

Mất năng lực hướng dẫn chính trị:

Ở những nước lạc hậu về chính trị, người ta mặc nhiên thừa nhận nhân dân là người được hướng dẫn, còn nhà nước là người hướng dẫn. Chính vì khẳng định rằng nhân dân là người có quyền được hưởng sự hướng dẫn chính trị và chỉ có mỗi quyền ấy thôi nên các nước này không có xã hội dân chủ. ở những quốc gia này, nhân dân không có quyền để phổ biến các quan điểm của mình. Việc hạn chế quyền tự do phổ biến các quan điểm để giành cho một quan điểm có toàn bộ các quyền tự do làm cho xã hội được hướng dẫn lệch. Theo lẽ tự nhiên, nhân dân cũng có những hướng dẫn chính trị, nếu sự hướng dẫn chính trị của hệ thống chính trị không được cân bằng bởi những hướng dẫn theo chiều ngược lại này tất yếu sẽ trở nên lệch lạc. Có thể thấy hiện tượng mất năng lực hướng dẫn chính trị biểu hiện rất rõ ở một tầng lớp rất quan trọng trong xã hội, đó là tầng lớp trí thức. Trí thức là một lực lượng tham gia vào quá trình hướng dẫn chính trị dưới hình thức các hoạt động khoa học, giới trí thức cũng là thành phần tạo ra sự hướng dẫn xã hội nhưng ở các nước chậm phát triển giới trí thức đang mất năng lực hướng dẫn xã hội. Đời sống chính trị của họ lệ thuộc hoàn toàn vào nhà cầm quyền, họ không có năng lực để độc lập về mặt nhận thức hoặc năng lực độc lập về mặt chính trị cho nên tiếng nói của họ là tiếng nói phụ họa. Điều đó có nghĩa là trí thức cũng tham gia vào sự hướng dẫn sai lệch về mặt chính trị. Độ không phù hợp hay độ mất mát năng lực ở giới trí thức là rất lớn vì họ trượt theo những sự hướng dẫn không còn giá trị khách quan nữa. Sự mất mát năng lực hướng dẫn của giới trí thức tạo ra sự mất mát năng lực hướng dẫn chính trị của xã hội, làm cho xã hội mất cả năng lực hành động. Sự mất năng lực hành động của xã hội là hệ quả tất yếu của sự mất năng lực hướng dẫn chính trị, mà sự mất năng lực hướng dẫn chính trị là hệ quả của sự không tự do về mặt chính trị. Cái logic ấy chặt chẽ một cách tự nhiên, vì đó là logic của cuộc sống.

Rõ ràng là sự mất mát năng lực hướng dẫn chính trị của xã hội xuất phát từ chỗ cả xã hội được hướng dẫn bởi một khuynh hướng duy nhất, xã hội không có quyền lựa chọn. Làm như vậy chính là tiêu diệt sự đa dạng tinh thần của xã hội. Các năng lực khác nhau là nguồn dự trữ để chuẩn bị cho xã hội khả năng ứng phó với những đòi hỏi khác nhau của cuộc sống, tiêu diệt sự đa dạng tinh thần chính là tiêu diệt nguồn dự trữ các giải pháp xã hội. Nhà nước không những hướng dẫn sai năng lực, tạo ra sự lệch pha giữa năng lực và đòi hỏi mà còn tạo ra cái không thể đúng được của xã hội khi chuẩn bị năng lực vì nhà nước đã làm mất nguồn dự trữ. Do đó, có thể kết luận rằng, chỉ riêng nhà nước có quyền hướng dẫn chính trị trực tiếp là trạng thái chậm phát triển về chính trị của những nước chậm phát triển. Sai lầm của các xã hội ở đó là vô tình cố định hoá những người cầm quyền là người hướng dẫn mà quên mất rằng những người có năng lực hướng dẫn mới có thể trở thành người cầm quyền. Đã đến lúc các xã hội chậm phát triển phải thức tỉnh về một thực tế rằng: Ai có năng lực hướng dẫn thì người đó có thể trở thành người cầm quyền, đấy chính là sự chuyển dịch hợp lý, chuyển dịch thuận của quá trình chính trị. Chỉ có được sự chuyển dịch thuận như vậy mới có thể đảm bảo để xã hội không rơi vào tình trạng mất mát năng lực trên qui mô lớn.

  • Nguyễn Trần Bạt

Thưa các đồng chí chưa bị lộ!

November 1, 2008

Thưa các đồng chí, những người đã trót nhúng tay vào chàm như tôi!

Photobucket

Kể từ khi tôi phải đứng trước vành móng ngựa, không ngày nào tôi không nghĩ đến các đồng chí. Tôi cứ ngẫm mãi tại sao mình lại phải dấn thân vào chốn lao tù như thế này mà các đồng chí lại không? Tái ao nhiều đồng chí “ăn” đậm hơn tôi rất nhiều lần, không những không dính đòn mà còn có cơ hội ăn đậm hơn nữa? Tại sao cùng là những kẻ ngày ngày đua nhau cấu véo tài sản của dân chúng mà lại có cảnh “người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”? Đau lắm!

Tôi năm nay tuổi chưa đến 60, tức là không được từng trải qua cuộc kháng chiến 9 năm nhưng cũng đã từng lăn lộn trong công cuộc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trên tay tôi đã từng có những đồng đội trước khi trút hơi thở cuối cùng, miệng vẫn mỉm cười mãn nguyện vì mình đã hiến dâng cho một tương lai sạch sẽ, thơm tho. Lúc đấy, tôi đã khóc, không những khóc mà còn gào thét, thề với lòng mình rằng sẽ xé tan trời đất để thực hiện cho bằng được những lời trăng trối ấy.

Nhưng rồi trời đất đổi thay. Từ chỗ phải vào bản làng đổi từng chiếc gương con cho các cô gái người dân tộc để lấy rổ bắp, con gà… thì bây giờ quanh tôi là cả một kho tiền, mà cửa giả chỉ là tranh tre nứa lá. Nói cho hình tượng thế thôi chứ kho tiền ở đây là tiền dự án của Nhà nước, được bảo vệ bằng các cửa giả là hệ thống quản lý của Nhà nước. Thông thường thì việc quản lý tiền công bao giờ cũng khó hơn tiền tư bởi lòng tham luôn luôn thường trực trong đâu đó ở mỗi con người. Thế là tôi dính, các đồng chí cũng dính. Cũng như các cô gái bán thân, khó khăn nhất là lần “đi khách”, sau nữa thì còn gì để mà mất. Tôi cứ trượt theo mãi, quên cả lời thề với đồng đội năm xưa.

Nhưng cái đau của tôi là ở chỗ cùng là những kẻ quên lời thề, tại sao các đồng chí lại nhìn tôi như cái nhìn của những kẻ ngoài cuộc? Có phải tôi tham lam hơn các đồng chí không?… Tất cả những câu hỏi đó lúc nào cũng quay cuồng trong đầu tôi để tìm lời lý giải. Để làm gì ư? Để trả thù, để tố cáo, các đồng chí biết không? Để các đồng chí phải vào đây cùng với tôi. Để lấy lại sự công bằng…

Nhưng than ôi! Đấy chỉ là những ước mơ vô vọng. Tôi biết rằng các đồng chí phải giỏi giang hơn tôi, phải khôn ngoan hơn tôi, phải từng trải hơn tôi thì mới được như thế.

Tôi đã nhận ra sai lầm của tôi rồi, các đồng chí ạ. Tôi sẽ phấn đấu ra tù sớm. Điều này không khó bởi trong bộ máy quản giáo này cũng có nhiều đồng chí chưa bị lộ, tôi lại có tiền để lo lót, để bơm vá. Sẽ có nhiều lý do tạo dựng để tôi được ra sớm. Lúc đó, tôi sẽ liên kết với các đồng chí để tiếp tục tìm kiếm vinh quang trong sự giàu có. Ở đất nước này, chúng ta còn có thể kiếm được rất nhiều tiền từ đống tài sản công hữu khổng lồ trong khi hệ thống quản lý lại là “tranh tre nứa lá”. Chúng ta sẽ chia sẻ kinh nghiệm cho nhau. Các đồng chí dạy tôi cách không phải bước chân vào nhà tù, còn tôi sẽ dạy các đồng chí nếu chẳng may phải vào tù thì thoát nhanh bằng cách nào…

Ôi, tuyệt vời quá! Không ngờ rằng cuối đường hầm lại mở ra một ánh hào quang chói lòa. Bởi tại sao? Bởi vì chúng ta luôn luôn là “đồng chí” của nhau.

  • Theo Tạp chí Nhà quản lý (Nguyễn Hoàng Linh)

“Suy dinh dưỡng tâm hồn”

October 22, 2008
Suy dinh dưỡng hiểu đơn giản là khi người ta không hấp thụ được mọi thứ không phù hợp với thể tạng, cơ địa của mình. Nhưng sự “suy dinh dưỡng tâm hồn” mới thật là trầm trọng và rất đáng quan ngại khi nếp sinh hoạt, lối sống, quan niệm vào đời đều đang bộc lộ tình trạng xuống cấp.

Chuyện kể ngày xưa Hải Thượng Lãn Ông có lần khám cho một vị hoàng tử về chứng gầy yếu biếng ăn đã phán rằng: “Hoàng tử bị suy dinh dưỡng”. Cả triều đình cảm thấy ngạc nhiên vì cậu ta đâu có thiếu sơn hào hải vị, cao lương mỹ vị. Nhưng không ai hiểu lý do “suy dinh dưỡng” là cậu ta không thể hấp thụ mọi thứ trên đời nếu nó không phù hợp với thể tạng, với cơ địa của chính mình. Suy rộng ra cái được ăn cái ăn được không phải lúc nào cũng tương thích, đem lại kết quả như ý.

Nhìn lại thanh thiếu niên chúng ta, có ai ngạc nhiên trước tỷ lệ gần 30% suy dinh dưỡng thể chất khi tuổi trẻ hôm nay có qúa ít thời gian rèn luyện thân thể, và chắc sẽ còn ngạc nhiên nhiều hơn nếu như sự “suy dinh dưỡng tâm hồn” mới thật là trầm trọng và rất đáng quan ngại khi nếp sinh hoạt, lối sống, quan niệm vào đời đều đang bộc lộ tình trạng xuống cấp.

Tại sao? Khi trong chương trình giáo dục chúng ta đã nhét vào đấy bao nhiêu là môn học từ chính trị đến đạo đức với trùng điệp ngôn từ về lý tưởng cao đẹp và bao nhiêu thứ mà những nhà giáo dục nghĩ là điều hay lẽ phải? Phải chăng những lời rao giảng không đem lại một giá trị thực tế nào hay chỉ vì chúng ta cứ “đè” học sinh ra mà nhồi nhét mọi thứ quan điểm của những nhà giáo dục bất kể trình độ nhận thức và hoàn cảnh xã hội.

Tuổi trẻ hôm nay đang suy dinh dưỡng ra sao?

Nữ sinh giờ tan trường. Trong số này, có bao nhiêu em không “hấp thụ được” những
gì mình đã được dạy? (Ảnh minh họa nguồn flickr.com)

Một sự thực hiển nhiên là những năm gần đây tình trạng bỏ học ngày một gia tăng lên đến con số hàng triệu. Số đi học thì rất nhiều trẻ không ngoan từ chuyện bỏ bê học hành, ăn diện thời trang, sống buông thả thiếu lý tưởng. Tình yêu đến quá sớm ngay từ cuối cấp 2 và lớp trẻ không nhận ra biên giới mong manh của tình yêu và thú vui xác thịt.

Theo một con số thống kê thì tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam đang ở mức báo động cao và khoảng 25% trong 500.000 ca được thống kê chính thức là trẻ vị thành niên (!). Theo ông Lê Trường Giang, Phó Giám đốc Sở Y Tế thì với con số 114.000 ca trong năm 2007, TP.HCM đã “vô địch” cả nước và tương tự, nước ta có thể “vô địch” thế giới. Một số trẻ lao vào vòng xoáy bạo lực, đâm chém, tập họp băng đảng y như trong phim “xã hội đen”, hút xách ma túy.

Chỉ rảo qua một số quán café giờ tan trường và nếu lắng nghe ngôn ngữ tuổi teen, bạn sẽ không khỏi giật mình trước rất nhiều tiếng lóng và chửi thề. Vậy thì nền giáo dục của chúng ta hôm nay đang đóng vai trò gì trong việc hình thành nhân cách? Những điều các em học trên ghế nhà trường, từ giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, chính trị v.v… không được hấp thụ tốt nên những hoàng tử công chúa của chúng ta vẫn cứ là những đứa trẻ suy dinh dưỡng(?)

Cái gì đang mất đi?

Cái gì đang mất đi?
(Ảnh minh họa nguồn: thehe8x.net)

Các nhà giáo dục hôm nay không khỏi băn khoăn khi những bài học được truyền trao không đem lại kết quả như kỳ vọng mà có người còn hoài nghi tính thực tiễn của những môn học ấy khi khoảng cách giữa cuộc sống và những điều được “thuyết giảng” ngày một xa cách. Chúng ta đang đánh mất những gì?

Phải chăng đó là tâm hồn và tình yêu thương thực sự. Có người đã phải kêu lên: “Vì đâu lương tâm bị đánh mất để xã hội nhiễu loạn đến mức này?” (Ths. Nguyễn Thị Oanh) và trước những suy thoái của xã hội người lớn khi họ đang rơi vào vòng xoáy của lòng tham, toan tính mưu cầu danh lợi thì trách sao lớp trẻ thiếu hẳn những tấm gương soi chân chính.

Thần tượng hôm nay của các em là ai? Những ca sĩ, diễn viên, người mẫu hào nhoáng bề ngoài hay những khuôn mặt đồng tính và đồng bóng? Cha mẹ, thầy cô có còn là nguồn động viên mạnh mẽ nhất cho các em vào đời?

Ths. Nguyễn Thị Oanh đã có câu trả lời khi nhận định: “Thât ra muốn các em tránh ma túy thì cơ bản hơn là tạo cho các em một cuộc sống gia đình hạnh phúc, an toàn. Làm sao cho các em được thỏa mãn các nhu cầu về tình thương, tình cảm, một đời sống văn hóa tinh thần phong phú, một nghị lực để nói “không” với cái xấu, những đam mê lành mạnh như nghệ thuật, thể thao” (Nguyễn Thị Oanh – Hạnh phúc phải lựa chọn).

Cha mẹ các em có hiểu điều đó không? Hay chính họ cũng đang vật lộn với cuộc sống và đang đánh mất dần khả năng yêu thương của chính mình. Tỷ lệ ly dị trên 30% là một con số để chúng ta suy ngẫm, chưa kể những gia đình đã đỗ vỡ nhưng còn đang níu kéo vì những quyền lợi vật chất gắn bó chưa thể tách rời. Tình yêu thương vì thế đã dần phai trong con người chúng ta hôm nay khi chủ nghĩa tôn thờ vật chất đang hoành hành trong mọi ngõ ngách của tâm hồn và đời sống.

Chúng ta so sánh giàu nghèo hơn thiệt với hàng xóm, với những người trong cộng đồng, trong gia tộc, với tất cả những ai mà ta muốn so sánh “Khi nào tâm hồn còn so sánh thì không thể có tình yêu xuất hiện và tâm hồn liên tục cân đo đong đếm, phán xét… Bạn so sánh chính bản thân với một người nào đó tốt hơn xuất sắc hơn, giàu có hơn; bạn liên tục quan tâm đến bản thân mình… Theo cách này ngày càng muốn chiếm hữu nhiều hơn, ngày càng ích kỷ hơn…” (Krisnamurti – Cuộc đời phía trước)

Krisnamurti cũng cho rằng: “Chức năng của giáo dục là phải giúp học sinh không bị mắc kẹt trong mớ hỗn độn của cuộc sống này, chính những hỗn độn ấy làm hạn hẹp tâm hồn chúng, khiến chúng không thể nhìn xa được…” Trường học, theo ông, phải là nơi mang lại hạnh phúc cho thế giới này. Vì thế giới này cần hạnh phúc. Phải chăng hạnh phúc chỉ có được khi con người biết tiết chế lòng tham, mở rộng tâm từ, và yêu thương cuộc sống.

Chúng ta đang đánh mất dần kỹ năng biết sống hạnh phúc khi tâm hồn trẻ thơ đã bị đốt cháy theo những ước mơ vị kỷ của người lớn từ chuyện chạy trường, chạy lớp cho đến đua đòi theo hướng bất chấp mọi thủ đoạn để ngoi lên (không phải vươn lên) trên tầng lớp xã hội của mình.

Nguy hại nhất, ngoài việc xơ hóa tâm hồn là mất luôn cả sự trung thực. Người ta dạy cho trẻ nói như được lập trình với những câu nói rỗng tuếch và đóng khung hai chữ quan điểm vào đấy. Khi người lớn quen sống trên hàng đống hàng giả từ bằng cấp, thành tích báo cáo cho đến chức danh, địa vị xã hội thì mong gì dạy dỗ lòng trung thực cho con trẻ.

Phải chống suy dinh dưỡng từ đâu?

(Ảnh nguồn: photobucket.com)

Trong khi chờ đợi những thay đổi ngoài xã hội thì ngay trong nền giáo dục, đã đến lúc phải nhìn lại hệ thống chương trình, giáo trình, nội dung, phương pháp. Trẻ phải được bú mớm, ăn dặm rồi mới có thể dự tiệc được. Không thể cứ khiên cưỡng nhồi nhét cái ta có mà không phải cái các em cần. Sự hấp thụ phải tùy theo nhận thức và trình độ phát triển tâm hồn. Dạy về tình yêu cho con trẻ phải bắt đầu từ yêu kính cha mẹ thầy cô (chứ không phải giáo dục sinh sản ngay từ năm lớp 5 hay lớp 6?).

Có người đã nhìn ra vấn đề: “Chúng tôi đấu tranh chống những khuynh hướng sai lầm trong giáo dục, đào tạo. Đó là khuynh hướng duy ý chí, muốn nôn nóng đưa giáo dục chính trị vào ngay cả từ lớp vỡ lòng. Rốt cuộc, chính trị không đạt yêu cầu mà nhân cách cũng không xây dựng được” (Mai Chí Thọ, Chủ tịch Hội Khuyến học TP.HCM, trích báo Công An).

Và cái trục phải là tình yêu thương và lòng trung thực vì theo nhận xét của một nhà tâm lý xã hội học về nền giáo dục chúng ta hiện nay là “Một nền giáo dục từ thế hệ này qua thế hệ khác không nhấn mạnh đủ đến đạo đức con người mà tính trung thực là cái trục”(Nguyễn Thị Oanh – sách đã dẫn).

Tất nhiên, không thể chỉ hô hào suông mà phải bằng kế hoạch hay hành động. Từ đâu, có lẽ phải bắt nguồn từ gia đình, nơi khơi mở những tình cảm, những tư duy chân chính – những khả năng vô tận trong bản tánh con người. Tính thân thiện mà nhà Phật gọi là tâm từ cần phải được giáo dục bởi lẽ “đó chính là lòng ước muốn an lạc và hạnh phúc cho mọi người, kẻ thù trực tiếp của nó là sân nhuế trong khi kẻ thù gián tiếp là tình yêu nhục dục hay ích kỷ” (Thera Piyddassi – Theo dấu chân Bụt).

Kế đến là tinh thần trung thực và khách quan trong nhìn nhận sự việc, khinh ghét sự dối trá dù đòi hỏi lòng dũng cảm. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gần đây có đề cập đến điều này;

Một nền giáo dục tốt phải có môi trường sư phạm tốt, với 6 yếu tố quan trọng: trật tự, kỷ cương, trung thực, công bằng, khách quan khuyến khích đầu tư, tình thương và sáng tạo. Và trụ cột đề thực hiện là giáo viên, học sinh và sự quản lý nhà nước về giáo dục… (Theo Báo Tuổi Trẻ 31/7/2008). Ta thấy tình thương và lòng trung thực đã được nhìn nhận như là những phẩm chất của một nền giáo dục mang tính nhân bản, dù chỉ là những bước chập chững ban đầu và khoảng cách từ nhận thức đến hành động vẫn còn đó. Nhưng hãy cứ mong sao sớm là hiện thực!

Phạm Văn Nga (Theo Văn Hoá Phật Giáo 66)


Hai Nhà Báo Và Một Lời Xin Lỗi

October 20, 2008

Những ai từng cầm lệnh “triệu tập” điều tra, mới thấy, sau 5 tháng ở tù mà vẫn giữ được thái độ trước Tòa như nhà báo Nguyễn Việt Chiến là một điều không dễ. Cũng con người ấy, khi làm thơ thì thật là duy cảm, khi làm bị cáo đã bản lĩnh hết mình. Những thông tin về PMU 18 bây giờ Tòa xác định là sai, nhưng khi viết, có lẽ, anh đã tin đấy là sự thật. Hai năm tù có thể là dằng dặc, cũng có thể là một “trải nghiệm” không chỉ có khổ đau, nhất là với một người biết rõ con đường đi mà mình lựa chọn.

Tôi cũng không nghĩ thái độ trước Tòa của nhà báo Nguyễn Văn Hải là vì “lượng khoan hồng”. Hơn 5 tháng trước khi bị bắt, trên blog của nhà báo Đức Hiển, Hải đã nói về những sai lầm này. Nhìn nhận những sai lầm trong nghề cũng là một hành động rất cần lòng dũng cảm. Đáng tiếc, phán quyết của Tòa, tạo ra hoàn cảnh quá khác biệt giữa hai người, đã để lại không ít ngậm ngùi cho dư luận và cho cả những người trong cuộc.

Cho dù tòa phúc thẩm (nếu có) sẽ đưa ra phán quyết thế nào; cho dù có những đánh giá khác nhau; thì mai đây, ai nghiên cứu lịch sử báo chí Việt Nam cũng sẽ phải lật lại trường hợp của hai anh Chiến, Hải. “Hồ sơ” của họ là một vụ điển hình, rất cần thiết được phân tích cả về “nghề” và luật.

Báo chí nhà nước đã không tường thuật chi tiết phiên tòa, phần cho thấy những thông tin mà báo chí đưa ra xung quanh vụ PMU hầu hết được xác định là “sai sự thật”. Không chỉ chịu điều chỉnh của Luật Báo chí, khi hành nghề, nhà báo cũng là một đối tượng của Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên, tất cả những hành vi mà Luật quy định như một tội danh (vu khống, xúc phạm danh dự và nhân phẩm công dân…), có thể áp dụng ở đây, đều bắt buộc phải xác định động cơ “cố ý”. Đưa tin sai sự thật rõ ràng là “lỗi”, nhưng để bị coi là có tội thì phải chứng minh các nhà báo, trước khi đăng, đã biết chắc những thông tin đó là sai. Ở đây, nhà báo Nguyễn Việt Chiến nói anh đã lấy tin từ một nguồn mà anh đã không nghi ngờ là “Ban Chuyên án”. Thượng tá Đinh Văn Huynh, cũng thừa nhận là đã “tiết lộ” những thông tin ấy cho các phóng viên theo dõi vụ PMU.

Tất nhiên, bị truy tố về tội danh được quy định tại điều 258 lại là một chuyện khác. Theo Cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, tội “Lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” vốn có nguồn gốc từ Luật Hình sự của Liên Xô, được Việt Nam “kế thừa” trong thập niên 80. Trong những năm 90, nhiều đại biểu Quốc hội đã yêu cầu bãi bỏ điều luật này, vì dân chủ và tự do thì hoặc có, hoặc không, hành vi nào mà luật chưa cấm thì người dân có quyền hành xử đương nhiên, chứ không thể đưa ra một quy định mơ hồ: “lợi dụng”. Tại Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, cho dù vẫn chưa thực sự có tự do dân chủ, người ta cũng đã phải bãi bỏ điều luật này. Tất nhiên, khi một tội danh vẫn còn ghi trong luật thì bổn phận của người dân vẫn phải chấp hành vấn đề là thủ tục tố tụng phải được tiến hành sao cho, khi phán quyết đưa ra, người dân có thể tin đấy là công lý.

Ngay cả với điều 258, cho dù “lợi dụng” là một hành vi khá mông lung thì “lợi ích của nhà nước và công dân” lại là một điều rất cụ thể. Lẽ ra, các luật sư của nhà nước và của các công dân được coi là có lợi ích bị xâm phạm ở đây như Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến, như tướng Cao Ngọc Oánh… phải chứng minh quyền lợi của họ đã bị xâm phạm ra sao. Phần nào do báo chí gây ra, phần nào được “dựng lên” bởi “Ban Chuyên án”. Nếu như những thông tin đã nêu do các nhà báo bịa đặt thì áp dụng cho họ một tội danh hình sự là điều đương nhiên. Nếu như, các báo chỉ vô tình bị những người như tướng Quắc lợi dụng thôi thì những thiệt hại do thông tin sai, các báo sẽ phải bồi thường cho đương sự. Năm 2005, phóng viên Andrew Gilligan đã có một phóng sự điều tra dẫn lời một quan chức cao cấp nói rằng chính phủ Anh đã “thổi phồng nguy cơ vũ khí hủy diệt lớn của Iraq”. Bài báo đã gây điêu đứng cho chính Thủ tướng Tony Blair nhưng khi có kết luận những thông tin của BBC là sai thì ông Tony Blair chỉ “hoan nghênh một lời xin lỗi”. Không ai kỷ luật “quyền chỉ trích chính phủ” của Andrew Gilligan. Tuy nhiên, về phía BBC, khi cho phát những “điều tra” không được kiểm chứng như vậy, cả Chủ tịch và Tổng Giám đốc của BBC đều phải vì đạo đức của nghề mà xin từ chức.

Một quy trình tố tụng cho phép các luật sư chứng minh “lợi ích của Nhà nước và công dân” bị xâm phạm, đồng thời sẽ làm rõ những thông tin mà “Ban chuyên án” cung cấp cho các phóng viên về vụ PMU là “sai”. Người dân sẽ không nghĩ khi tướng Cao Ngọc Oanh đựơc thăng quân hàm, thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được tự do trong khi một thành viên của “Ban chuyên án” và hai nhà báo bị bắt giam là cú “phản đòn” của “tham nhũng”. Hậu quả của vụ PMU 18 càng cho thấy, tư pháp phải hết sức độc lập trong khi tiến hành tố tụng. Cấp ủy cũng rất dễ bị các ban chuyên án lũng đoạn khi mà những người như tướng Quắc một mặt thì “cung cấp thông tin sai sự thật cho phóng viên” nhằm tạo ra một áp lực chính trị từ nhân dân; một mặt “báo cáo thông tin sai sự thật lên cấp trên” khiến cấp ủy không có lựa chọn nào hơn là phải cho khởi tố. Nếu tiến trình điều tra diễn ra độc lập, chắc chắn dù có chén gan trời, những kẻ như tướng Quắc cũng không thể dễ dàng khởi tố, bắt giam cho dù chỉ là một thường dân nếu như không có nhiều chứng cứ.

Trước vành móng ngựa, các thành viên chủ chốt của “Ban Chuyên án” PMU 18 đã không đưa được bằng chứng nào cho thấy những thông tin tham nhũng mà họ “tung ra” khi “làm án” là có cơ sở. Thật cay đắng khi ở một quốc gia mà chống tham nhũng đang là một khao khát của người dân, có khi lại trở thành chiêu bài của các “phe”, các “cánh”. Tôi vẫn hy vọng Nguyễn Việt Chiến rồi sẽ được tự do. Rất tiếc, những thông tin mà anh nhận được từ công an là sai, nhưng hậu quả mà nó gây ra không hẳn là hoàn toàn tiêu cực. Báo chí phải có trách nhiệm với sự trong sạch của một quốc gia; chỉ trích các quan chức và truy tham nhũng đến tận cùng là chỉ dấu của một quốc gia dân chủ.

Tôi tôn trọng sự lựa chọn của hai nhà báo. Đối với Nguyễn Việt Chiến, có thể đấy là niềm tin của anh. Nhưng, thừa nhận sai lầm có lẽ cũng là niềm tin của anh Nguyễn Văn Hải. Những “thông tin sai sự thật” ấy đúng là bắt nguồn từ các ban chuyên án, nhưng “kiểm chứng” cũng là một việc mà các nhà báo phải làm. Trong những vụ án như Năm Cam, Tamexco, Minh Phụng …, không ai rõ các nhà báo đã có bao nhiêu phần trăm thực sự điều tra, bao nhiêu phần trăm nhận “mớm cung” từ các ban chuyên án. Có những ai đã từng lãnh án mà oan bởi ngòi viết chúng ta. Khi nhìn đồng nghiệp phải vào tù đúng là thật xót xa, nhưng, tôi nghĩ, các nhà báo cũng phải nhận rằng chúng ta vẫn còn nợ nhân dân một lời xin lỗi.

  • Theo Osin blog (http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4)

Cái máy

October 17, 2008

Công việc chống tham nhũng thời hiện đại té ra rất khó khăn. Người ta đã huy động nhiều tuyên ngôn, lực lượng mà vẫn không ăn thua. Cuối cùng phải cầu cứu các nhà khoa học.

Đại khái chia ra hai trường phái:

Các nhà khoa học xã hội có xu hướng trở lại quá khứ để tìm biện pháp khả dĩ có thể áp dụng. Tỉ như phát động phong trào “phụ nữ ba đảm đang”. Họ nghiên cứu thời chiến tranh, những người vợ “ba đảm đang” đã từng dắt chồng lên nộp cho thủ trưởng đơn vị khi anh chồng nhớ vợ trót dại… đào ngũ. Nay cũng có thể theo đó mà phát động các quý bà “ba đảm đang” khuyên nhủ hoặc thậm chí giao nộp các “đức ông” cho pháp luật khi các “đức ông” trót dại tham nhũng chẳng hạn. Biện pháp này đi đến chỗ bế tắc là vì kết quả nghiên cứu cho thấy các “phu nhân đức ông” bây giờ bói chẳng ra một phần trăm “đảm đang” nào. Nhiều “quý” bà không những đồng lõa mà còn góp phần tích cực cho… nền tham nhũng ngày càng… phát triển là đằng khác. Tóm lại các nhà khoa học vẫn đang trong quá trình nghiên cứu quá khứ!

Các nhà khoa học tự nhiên lại có xu hướng tiến tới tương lai. Họ lý luận rằng cái gì người không làm được thì phải dùng máy. Thế là qua một thời gian dài nghiên cứu, thí nghiệm… cuối cùng họ đã chế ra được một cái máy phát hiện tham nhũng. Bất cứ một dạng vật chất nào khi đưa đến gần máy, lập tức nó sẽ chỉ ra trong chất ấy có bao nhiêu phần trăm là tham nhũng. Thành tựu này quả thực hết ý. Nhà nước bèn đầu tư nhiều tỷ tiền để xây dựng một trung tâm chống tham nhũng hết sức bề thế, khang trang, cốt đặt được cái máy trứ danh ấy. Nhiệm vụ của nó là sẽ khảo nghiệm tất cả, từ vàng bạc tư trang đến nhà cửa, xe cộ… của những người có khả năng tham nhũng. Từ đó mà xác định trong những thứ ấy có bao nhiêu phần trăm là của chủ nhân, bao nhiêu phần trăm là do… ăn cắp của dân lành.

Ngày khánh thành trung tâm được tổ chức trọng thể. Có đầy đủ đại diện các ban ngành, đoàn thể tới dự. Ông giám đốc trung tâm trịnh trọng đóng cầu dao khởi động máy. Lạ thay, nó cứ ì ra không chịu hoạt động. Bao nhiêu thứ đích thị của tham nhũng 100% đưa lại gần mà kim vẫn chỉ số không. Sau khi kiểm tra lại, vị tiến sĩ chủ nhiệm đề tài buồn rầu tuyên bố:
- Cái máy tuy phức tạp, tinh vi song nó hoạt động cơ bản dựa trên nguyên tắc của sự… đánh hơi. Bộ phận quan trọng nhất, khó chế tạo nhất là bộ phận… “ngửi” có độ nhạy rất cao, song trong quá trình xây dựng trung tâm, bộ phận ấy đã bị kẻ nào… ăn bớt mất rồi. Thành ra bây giờ nó giống như người… tịt mũi, không thể làm cái việc… đánh hơi được nữa!

Thế là cái trung tâm mới xây dựng trên chưa đưa vào hoạt động được. Nghe đâu người ta lại đang tiến hành thanh tra việc đầu tư xây dựng trung tâm vì phát hiện có dấu hiệu… tham nhũng! Nhưng lại có tin đồn rằng người ta vẫn hco nó hoạt động bình thường, bởi nó dẫu có “tịt mũi”, không đánh hơi được gì thì vẫn có tác dụng cho ra những kết luận… trong sạch, góp phần giữ gìn đoàn kết nội bộ, ổn định tình hình… vân vân và vân vân…

  • Phạm Lưu Vũ Phong

Khắc tên 16 nghìn tiến sỹ – xin can, xin can!

October 13, 2008
Tôi tin rằng, những nhà khoa học thật sự của Việt Nam không ai muốn nằm cạnh những tiến sỹ “ngoại giao” hay “mua bán”. Họ thà làm viên sỏi lát đường cho người nghèo đi cắt lúa hơn là có tên trên bia đá để phủ bụi thời gian.

>> Thưởng 1.000 USD/bài báo – không phải việc của nhà nước
>> Thưởng 1.000/bài báo: xin đừng ban phát kiểu phong trào

Một đêm thức dậy, “đường đời mở rộng”

Người viết bài này có bằng PTS ở Đông Âu, đề tài về tự động hóa văn phòng, dùng máy vi tính thiết kế hệ thống lập lịch tự động. Nếu ai dùng Lotus Notes hay các loại lịch trên internet của Google, Yahoo và so sánh hệ thống tôi xây dựng cách đây 20 năm sẽ nói đó là mớ…giấy lộn.

Luận án được đóng gáy vuông, hơn trăm trang, trông rất được. Về nước nộp cho thư viện quốc gia một cuốn. Nhưng hình như nó đã bị mối xông hoặc bán cho hàng rong gói xôi. Vài năm trước đến xin lại, không thấy nữa.

Thú thật, tôi nhẹ cả người. Nếu ai không may tìm thấy để tham khảo cũng không sợ vì “biết mình là ai?”. Nhưng tôi biết chắc “tôi tên là gì”. Bạn đọc biết tôi sợ nhất cái gì không? Sợ đọc luận án PTS của chính bản thân (!).

Tôi tin rằng, những nhà khoa học thật sự của Việt nam không ai
muốn nằm cạnh những tiến sỹ “ngoại giao” hay “mua bán”.
Ảnh: blogdulich

Bằng đỏ được gói trong giấy bóng, cất trong két sắt. Thỉnh thoảng lôi ra ngắm hay mang về cho mẹ già ở quê khoe làng xóm. Cậu sinh viên nhà bên cạnh nhìn thấy vài lần, thản nhiên hỏi: “Chú mua hết bao nhiêu?”.

Tôi không mua bằng. Vì mối quan hệ ngoại giao giữa nước ta và bạn nên Hội đồng khoa học hàn lâm “thương” người Việt Nam đánh Mỹ, cần nhiều tiến sỹ về xây dựng đất nước. Tôi biết rõ các viện sỹ bạn đã ưu ái bỏ phiếu “đồng ý”, giúp tôi nên danh giá và họ hàng được tiếng thơm.

Cái bằng PTS “ngoại giao” ấy cũng giúp được nhiều việc. Đến hội nghị được giới thiệu “đây là PTS toán lý X”, rất oách!

Rồi một đêm thức dậy, tôi…thành Tiến sỹ vì quốc gia quyết định “không còn học vị PTS”. Đường đời càng mở rộng.

Nhưng thật không may, cái bằng ấy giúp chút danh tiếng nhưng không có miếng. Trình độ có hạn nên đành đổi nghề, đi dạy học kiếm tiền. Thấy tổ chức nước ngoài thi tuyển, tôi đánh liều gửi đơn. Họ nhận vì may mắn trong CV đã không đề Ph.D. Nếu không bị liệt vào loại “over qualified – trình độ quá cao”.

Làm việc một thời gian, nhiều người biết tôi có bằng cấp nên thi nhau gọi đùa “Dr. X” dù tôi chỉ là anh chàng quản trị mạng máy tính. Tôi đã “lạy như tế sao”, xin họ bỏ chữ Dr.

Người ta xứng đáng là tiến sỹ nếu làm trong lĩnh vực đó nhiều năm, có kết quả nghiên cứu được thừa nhận, các trường mời giảng dạy, ứng dụng rộng rãi trong thực tế hoặc ít nhất có các bài báo đăng ở các tạp chí nổi tiếng.

Còn tôi, cái bằng kia đã vứt xó. Bao nhiêu năm nay không có bài báo nào, sống bằng quá khứ “nhầm lẫn” của hội đồng khoa học nước bạn trời Âu.

Xin can, xin can…

Mấy hôm nay nghe chuyện nước ta dự định thành lập Trung tâm bảo tồn di sản tiến sĩ Việt Nam thời hiện đại. Họ định dành mười mấy hecta cho “Văn Miếu” khác, ghi danh các tiến sĩ thời nay, có cả rùa đội bia đá khắc tên các nhà khoa học.

Tôi thấy run. Đàng hoàng là tiến sỹ, tên mình có thể được xét. Bà mẹ già 88 tuổi nghe tin này, sợ cụ không qua khỏi…vì mừng. Vì thế, tôi “cắn cơm cắn cỏ”, lạy các chư vị đừng cho tôi lên lưng rùa vì muốn mẹ tôi sống trăm tuổi.

“Nếu lịch sử nhầm lẫn trên “bia đá” dễ trở thành “bia miệng” cho đời sau”
Ảnh: vn.wz.cz

Để đưa đất nước đi lên như ngày hôm nay, chúng ta có rất nhiều nhà khoa học thực sự giỏi, đóng góp rất lớn cho phát triển, xóa nghèo và bảo vệ đất nước. Họ xứng đáng có bia đá như các vị trạng nguyên thuở trước.

Những tên tuổi lớn như Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của hay vài chục người khác nên được khắc ngay vào văn bia Quốc Tử Giám. Nhưng khắc tên 16 nghìn tiến sỹ thì thật khủng khiếp.

Tôi lo thần Kim Qui mang trên vai cả tài sản trí tuệ …rởm. Sự dối trá, nhất là dối trá trong khoa học, sẽ nặng như Ngũ Hành Sơn. Mai của các cụ rùa sẽ gẫy, bia sẽ đổ. Thế hệ tương lai mất công khuân đá để…làm đường.

Những năm cuối 1980, tôi còn nhớ phong trào làm hồ sơ phong giáo sư. Có người ra sức tìm các bài báo đăng đâu đó, rồi những bài đứng chung tên được chia chác. Chủ trì đề tài quốc gia được thêm vài điểm dù ông ta chỉ lĩnh tiền “chủ trì nhưng không làm gì”. Họp tổng kết, ông thường ngồi trên bàn đầu, nơi ống kính TV dễ bắt nhất. Tôi cứ tưởng tượng lúc xét lên bia đá trong Văn Miếu mới sẽ diễn vở kịch tương tự. Dám chắc, ông ta lại đòi ra mặt tiền của dãy bia.

16 nghìn tiến sỹ với 16 ngàn bia và rùa, kể cả công nổ mìn, đục, đẽo, khắc trên đá chắc đủ làm một con đường 16 km cho một vùng quê nghèo Hà Tĩnh hay Hà Nội mở rộng. Gọi đó là “Đường Tiến sỹ Việt Nam” sẽ được người đời nhớ lâu.

Tôi tin rằng, những nhà khoa học thật sự của Việt nam không ai muốn nằm cạnh những tiến sỹ “ngoại giao” hay “mua bán”. Họ thà làm viên sỏi lát đường cho người nghèo đi cắt lúa hơn là có tên trên bia đá để phủ bụi thời gian.

Vốn ghét sân golf, vì nước mình còn nghèo, nhưng tôi xin chuyển mục đích sử dụng mười mấy hecta đất cho thể thao “lỗ” thay vì dùng cho “Văn Miếu” đương đại. Hoặc kinh phí ấy dùng cho thi hoa hậu cũng thú vị, dù tôi không thích trình diễn áo tắm. Hoa hậu “rởm” về học lực nhưng chân dài và các vòng 1-2-3 của các nàng lại rất “thật”.

Về khoa học, công trình “rởm” biến thành tai họa “thật” cho người nghèo. Lịch sử nhầm lẫn trên “bia đá” dễ trở thành “bia miệng” cho đời sau.

Nhà văn hóa Nguyên Ngọc đã “xin can” trên báo Tia sáng (03/10/2008), trí thức Việt kiều Trần Hữu Dũng cũng viết đùa “Xin can, xin can” khi biết tin này.

Biết không thể khuyên người khác, tôi chỉ biết tự can…mình.

  • Hoa Lư