| Mục tiêu của giáo dục xã hội nên là gì? Là thành nhân, sau đó mới đến thành tài. Phải đặt trọng tâm ở trường phổ thông là giáo dục con người thành nhân với một số kỹ năng rất cơ bản: biết cách học, biết phân tích và phản biện, biết đặt ưu tiên và giá trị của việc học tùy theo khả năng, hoàn cảnh và sở thích của cá nhân. | ||||||
|
Nhiều năm nay, ngành giáo dục nước ta đã lâm vào tình trạng khủng hoảng triền miên ở mọi cấp. Những vấn đề tiêu cực trong ngành đang là nỗi bức xúc lớn của xã hội. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã đặt mục tiêu phòng chống tiêu cực lên hàng đầu như chống gian lận trong thi cử là bệnh thành tích của bộ giáo dục. Nhưng những hiện tượng tiêu cực chỉ là triệu chứng của những vấn đề lớn hơn. Giáo dục ở nước ta đã lâm vào tình trạng khủng hoảng thì phải có cái nhìn hệ thống để tìm ra cả những nguyên nhân gián tiếp dính dáng tới giáo dục. Vì vậy, đòi hỏi trước tiên là cần phân tích từ gốc để tìm ra những cái thiếu, những cái sai làm cho sản phẩm giáo dục của chúng ta èo uột… và phải xét từ hai góc độ tư duy và góc độ cơ cấu. Trong giới hạn của bài này, chỉ xin đặt trọng tâm phân tích ở góc độ tư duy hệ thống. Khi xã hội đã định rõ được và đồng thuận về mục tiêu của giáo dục (nên là gì và tại sao) và xác định được một tư duy hệ thống chuẩn thì bài toán của vấn đề cấu trúc hệ thống sẽ tự nó được giải một cách dễ dàng và hợp lý. Cái đầu có đúng thì cái tay mới có thể làm đúng và có hiệu quả. Mục tiêu của giáo dục xã hội nên là gì? Là thành nhân, sau đó mới đến thành tài. Trong hai mục tiêu này, thành nhân phải là mục tiêu chính của phần lớn các công tác giáo dục của xã hội. Phải đặt trọng tâm ở trường phổ thông là giáo dục con người thành nhân với một số kỹ năng rất cơ bản: biết cách học, biết phân tích và phản biện, biết đặt ưu tiên và giá trị của việc học tùy theo khả năng, hoàn cảnh và sở thích của cá nhân. Giáo dục để thành nhân Chúng ta lớn lên với những chữ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chữ Nhân đứng đầu. Hiểu một cách thoáng thì Nghĩa, Lễ, Trí là kiến thức và nguyên tắc sống để thành nhân. Trí để biết sống thế nào là đúng. Lễ để biết cách sống thế nào để làm giàu cái tình, cái Nghĩa. Cái Nghĩa tạo nên cái Tín. Cái Tín là điều kiện cần để các mối quan hệ xã hội đạt hiệu quả tối ưu, từ tình cảm cá nhân đến kinh tế, chính trị. Như vậy, biết sống đúng vai trò xã hội của mình để được chữ Tín thì mới có được nhân tính tốt. Mẫu số chung trong tất cả các điều kiện để sống đúng là tính trung thực. Sống trung thực là một giá trị đạo đức bất di bất dịch. Sống không trung thực, thì ở bất cứ văn hóa nào cũng đều không đúng lễ, sinh ra bất nghĩa, bất tín, bất nhân. Vậy chúng ta hãy cùng nhau thẳng thắn nhìn lại xem nền giáo dục nước ta có đào tạo được những sản phẩm biết và đang sống trung thực để thành nhân chưa? Trước nhất, cần một cách nghiêm túc và sòng phẳng trong cách chúng ta đặt ưu tiên của giáo dục con em chúng ta qua sự đối xử với thầy cô. Chúng ta thờ ơ với sự vô cảm không thể chấp nhận được của xã hội đối với họ. Chúng ta giao cho họ một trách nhiệm cực kỳ lớn mà chỉ với một mức lương không đủ cho họ ăn sáng và đổ xăng đến trường. Có qua thì có lại, đối xử với người thầy như vậy thì người thầy làm gì có cái nghĩa để làm đúng trách nhiệm của mình? Một khi người thầy không thể làm đúng, không thể sống đúng để làm gương tốt cho con em mình thành nhân thì bàn chi đến vấn đề hiệu quả của việc dạy và học? Người Mỹ có câu: “Đầu vào là rác thì đầu ra cũng rác” (Garbage in, garbage out). Từ ghế nhà trường đến cuộc sống trong xã hội của chúng ta, chữ Tín đã bị biến dạng tới mức không còn nhận dạng được nữa. Trò không tin thầy (cháu bé mới tám tuổi đã biết không đi học thêm với thầy thì không làm bài được), làm ăn không tin nhau (một khảo sát quốc tế mới đây cho biết hơn 70% doanh nghiệp trong nước tin tưởng làm ăn với đối tác nước ngoài hơn đối tác trong nước), các tệ nạn xã hội, từ bán độ bóng đá đến tham nhũng, chính sách bất cập đầy rẫy. Nhà tâm lý học B.F. Skinner đã nói: “Con người là sản phẩm của môi trường”. Giáo dục phải đóng vai trò chủ động tạo dựng môi trường xã hội vì giáo dục có cơ hội tiếp cận với sản phẩm “từ thuở lên ba”. Một chính sách giáo dục có trọng tâm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín sẽ có tác động cạnh tranh tích cực với môi trường xã hội tiêu cực và phải là điểm khởi động để cải thiện môi trường xã hội. Cái đúng bao giờ cũng là điểm gặp nhau ở cấp độ cao nhất của mọi văn hóa, tư tưởng có giá trị. Tỷ phú Warren Buffett, người đã cống hiến hầu hết gia tài của mình (trên 30 tỉ USD) cho công việc từ thiện, thường nhắc nhở các sinh viên tốt nghiệp đại học ngày họ ra trường rằng: “Các em cần tính trung thực, sự thông minh và ý chí để thành công. Nhưng nếu các em có tất cả các yếu tố sau mà thiếu yếu tố đầu (trung thực) thì các em sẽ trở thành những người rất nguy hiểm cho xã hội và các em sẽ có khả năng tự hủy diệt”. “Tôi yêu thầy tôi, nhưng tôi còn yêu sự thật hơn ông ấy nữa”
Xã hội chúng ta mang nặng tư tưởng Khổng – Mạnh: Quân, Sư, Phụ. Vua cho một môi trường xã hội tốt để sống nên phải trung với Vua; Thầy cho cái đầu để biết sống phải đạo nên phải kính Thầy. Cha mẹ sinh con, cho con thể xác và tình thương để phát triển cái “Nhân” nên phải hiếu để với cha mẹ. Lâu đời vì áp lực của nhu cầu chính trị, từ các thế lực cầm quyền, người dân dưới văn hóa Khổng Mạnh đã “bị” áp đặt hiểu cái trật tự xã hội theo nghĩa hủ nho: Chấp nhận xuôi tay trung với vua, “bán tự cũng vi sư”, mà đã là sư thì trò không dám phản biện. Cho nên thầy đọc còn trò chỉ có biết chép và lặp lại khuôn mẫu để trúng ý thầy. Người ta quên cái vế kia của nền văn hóa là Vua phải tốt, phải thương Dân thì Dân mới trung với Vua. Dân có ý thức được giá trị và có khả năng phản biện thì Vua mới được nghe từ Dân. Triết gia lớn của nền văn hóa phương Tây là Aristote đã nói: “Tôi rất yêu Plato (cùng là một triết gia lớn khác), là ông thầy của tôi, nhưng tôi còn yêu sự thật hơn tôi yêu ông ấy nữa”. Xã hội nào biết quý sự thật, biết đòi sự thật thì xã hội đó mới tiến hóa. Có sự thật (“Chân”) thì mới có cái hay cái tốt (“Thiện”) và cái đẹp (“Mỹ”). Đòi sự thật là đòi quyền phản biện để cho ra lẽ. Phản biện tức là có sự tranh luận nhằm loại bỏ cái sai và giữ cái đúng, cái hay. Phản biện là làm giàu cho cái “động” tích cực, cần thiết cho mọi tiến hóa của con người, của xã hội. Cái “tĩnh” là cái bảo thủ làm xói mòn, giết chết tính năng động phát triển. Mối nguy hại của cái “tĩnh” là làm cho người ta có một cảm giác an bình giả tạo, phản lại nhu cầu của cái “động” cần thiết. “Giá trị của giáo dục là người học còn nhớ được cái gì sau khi đã quên hết tất cả” Giá trị cụ thể của một xã hội có nhân tố tốt là gì? Là sự ổn định xã hội từ ý thức tự trọng và tương kính (nhờ mọi người có cái nghĩa và biết lễ), là sự kết hợp hài hòa giữa người với người, giữa người với hệ thống, giữa xã hội và môi trường thiên nhiên, đưa đến kết quả tối ưu trong tất cả các giao dịch xã hội, kinh tế, chính trị (nhờ mọi người có cái trí và cái tín). Xã hội Nhật Bản là hình ảnh cụ thể của một nền giáo dục tốt. Người Nhật hiểu và hành Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín nên dù họ không được đánh giá là dân tộc có tính sáng tạo cao nhưng họ vẫn có thể đạt được những thành tựu kinh tế-xã hội lớn lao và có một xã hội văn minh, có văn hóa hàng đầu thế giới.
Giáo dục để thành tài. Đó là vấn đề của cái tay. Khi một người đã có văn hóa, biết tôn trọng sự thật và muốn tìm sự thật thì người ấy đã có một tinh thần khoa học, biết nhìn nhận phân tích vấn đề, có một sự chuẩn bị tốt để phát triển bản thân. Phương tiện, khả năng chuyên môn để giải quyết vấn đề chỉ là phần giá trị phụ, vì nếu không có thì cũng có thể đi mua, đi thuê. Thành nhân là đã giải quyết được phần lớn mục đích thành tài. Với những phương tiện hiện đại của thế giới ngày hôm nay, học để có tài không còn là một thử thách khó khăn, phức tạp như trước nữa. Nguồn thông tin cho bất cứ ngành nghề nào cũng cực kỳ đa dạng, phong phú và dễ dàng tiếp cận. Một sinh viên, kỹ sư có thể ngồi trước máy tính học để học làm được một trái bom nguyên tử mà không hề phải bước chân ra khỏi nhà. Điều kiện thành công của con người đã trở thành định tính nhiều hơn là định lượng. Mức độ thành công chỉ còn tùy thuộc vào hai yếu tố nữa (cũng định tính) là tư duy tổ chức tốt và tính kiên trì. Vì vậy, tất cả các đại học hàng đầu thế giới hiện nay khi tuyển sinh chỉ dùng số điểm (học bạ, kỳ thi tuyển) với chỉ số 30-50%, phần còn lại là kinh nghiệm hoạt động xã hội (từ thiện, phi lợi nhuận…), thành tích chứng tỏ khả năng lãnh đạo, khả năng rèn luyện thể dục thể thao, nghệ thuật… Đó là họ tìm giá trị của cái Nhân trong tuyển sinh. Ý thức tư duy đã rõ ràng như thế. Nếu xã hội đã có sự đồng thuận theo mục tiêu của giáo dục thì vấn đề còn lại là tổ chức cho được một hệ thống cấu trúc để đạt được mục tiêu đó. “Đổi mới” luôn là một quá trình đấu tranh nhọc nhằn để từ bỏ những thói quen, cách sống, cách suy nghĩ, cách làm việc chưa hợp lý. Nhưng xã hội cần phải có một sự lựa chọn dứt khoát để nắm bắt cơ hội thăng tiến, hội nhập thành công vào nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI.
|
Thành nhân trước khi thành tài
October 8, 2008Tôi đang bị buộc phải tham nhũng?!
October 6, 2008“Tôi sẽ rất muốn có những phong bì vào các buổi họp hành dù chỉ năm chục một trăm nghìn. Tôi sẽ rất muốn thỉnh thoảng nhặt nhạnh vài ba thứ thanh lý giá rẻ của cơ quan về để cải thiện”. Bạn đọc Ngạn Mai (Hà Nội) bắt đầu bài viết gửi đến VietNamNet tham gia chủ để chống tham nhũng.
Tôi sẽ rất muốn lạm dụng thời gian công sở để “chân trong chân ngoài” làm thêm. Nhưng, là một cá nhân vẫn tin rằng mình đang trong sạch, tôi hoàn toàn không hề cho rằng tôi tham nhũng.
Sự phân biệt giữa 1. đối tượng tham nhũng để làm giàu bất chính và, 2. đối tượng tham nhũng để đỡ chật vật đời sống chỉ có tính hình thức.
Chưa kể “tay đã nhúng chàm”, càng ngày càng có cơ hội khiến đối tượng thứ 2 trở thành đối tượng thứ 1.
Tham nhũng đã ngấm vào tận máu tủy của hệ thống. Rất nhiều người không còn nghĩ họ đang tham nhũng nữa. Ngay cả chính tôi đây, với hệ số lương 2,67 chưa đến 1 triệu/tháng. Tại cái đất Hà Nội đắt đỏ này, số tiền đó chỉ đủ chi trả được chưa đầy nửa tháng theo mức chi phí đối với riêng cá nhân tôi (tiền thuê nhà, ăn uống, xăng xe, tiền điện, điện thoại, truyền hình cáp, Internet), lập gia đình và nuôi vợ nuôi con thế nào được.
Thế thì phải thế nào đây? Tôi sẽ rất muốn có những phong bì vào các buổi họp hành dù chỉ năm chục một trăm nghìn, tôi sẽ rất muốn thỉnh thoảng nhặt nhạnh vài ba thứ thanh lý giá rẻ của cơ quan về để cải thiện. Tôi sẽ rất muốn lạm dụng thời gian công sở để “chân trong chân ngoài” làm thêm. Nhưng, là một cá nhân vẫn tin rằng mình đang trong sạch, tôi hoàn toàn không hề cho rằng tôi tham nhũng.
Một số hoạt động phong trào không có tiền chi phí, chúng tôi phải làm thế nào đây? Chẳng hạn sinh hoạt đoàn thể hát hò; chế độ mỗi năm một lần cho toàn bộ công chức đi du lịch đâu đó mấy ngày mùa hè; tiền ngày lễ, tết? Chúng tôi toàn phải bịa ra một việc đó khả dĩ hợp lý để tìm cách lấy tiền chi phí cho những việc như vậy.
Ý tưởng giảm nửa số công chức sẽ mãi chỉ là ý tưởng mà thôi. Tôi cho rằng đây vẫn chưa thực sự là một giải pháp khả dĩ. Cách nào để giảm trong khi chính thủ trưởng đơn vị cũng chưa chắc đã có quyền?
Chưa kể cả một nền tảng văn hóa như Việt Nam đã hàng ngàn năm nay luôn chú trọng đến sự “đầy đủ” ban bệ văn võ bá quan, việc tinh giản đội ngũ “ăn lộc vua” chưa bao giờ là một thách thức cần đặt ra.
Tôi đã rất cay đắng khi nhẩm tính những số tiền nhiều ngàn tỉ rơi vào tay những kẻ có chức có quyền, rất nhiều vụ việc tham nhũng kinh hoàng với số tiền thất thoát nhiều ngàn tỉ khác nữa chưa bị phát giác.
Và cả lãng phí nữa! Số tiền tham nhũng và lãng phí đó có thể đủ chi trả lương cơ bản cao gấp 10 lần hiện nay cho mọi cán bộ công chức viên chức, dập tắt tận gốc biểu hiện tham nhũng đang manh nha trong họ đồng thời kích thích năng lực công tác của họ.
Cả tôi cũng vậy, nếu với đồng lương bèo bọt rẻ rúng như hiện nay, tôi dù không nghĩ rằng bản thân đang tham nhũng, vẫn háo hức nhận phong bì mỗi khi có cơ hội.
Chúng ta đã hy sinh quá nhiều, tại sao chúng ta không chấp nhận trả lương cao hơn, cao hơn nữa và khoán trách nhiệm đối với người nhận lương chặt hơn, chặt hơn nữa kể cả có phải vay tiền các quỹ viện trợ phát triển để trả?
- Ngạn Mai (Hà Nội)
Trần Dần & Tố Hữu
September 30, 2008Tất nhiên, không ai tin việc tập thơ Trần Dần bị “niêm phong” chỉ vì vài cái lỗi về thủ tục. Nhưng thôi, đó cũng là một lối ra rất đỡ mất mặt. Dù sao, Thơ Trần Dần cũng đã bán rất chạy, ngay đến cậu con trai tôi, 15 tuổi, cũng tò mò.

(Chân dung Trần Dần)
Thơ ông đa nghĩa quá. Chỉ riêng một bài Nhất Định Thắng, tôi nghĩ, đã có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm, vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn. Không hiểu sao, cho tới nay, chưa thấy ai làm một bộ phim truyện dựa trên bài thơ ấy. Ta ở phố Sinh Từ… Một giai đoạn lịch sử buồn đau của đất nước hiện ra mồn một trong mỗi câu thơ của ông.
Khi Trần Dần viết bài thơ ấy, đất nước đang bị phân đôi, ở miền Bắc chiến tranh kết thúc. Nhưng, cuộc sống của người dân thì không có hòa bình. Trần Dần viết: Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm? Không hiểu, hình tượng “vết chém ngang lưng” ông viết ở đây là để nói về nỗi đau chia cắt tổ quốc hay chỉ đơn giản nói về cái không khí ngột ngạt ở miền Bắc, cái không khí mà đến 30 năm sau, Hữu Loan vẫn nhớ: “Thành viên nào (trong cộng đồng) cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh”.
Theo Hiệp định Geneve, người dân có một thời gian dài để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Trong khi, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà trên đất Bắc. Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ – Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng?
Trong những ngày xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ấy, tình hình Thế giới được “quán triệt” thành hai “phe” Xô- Mỹ. Nhưng cái “phe” mà ông quan tâm cũng “căng thẳng” vô cùng: Gặp em trong mưa/Em đi tìm việc/Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/- Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ… Ông nghĩ: Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt./Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt./Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù/Chúng còn đương bày kế hại đời ta? Nhưng “cơm áo” không phải là những gì ngột ngạt nhất mà những người như ông đã từng nếm trải.
Theo tác giả của Màu Tím Hoa Sim, nhà thơ Hữu Loan: Trên thực tế, khi ấy, rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Các văn nghệ sỹ lúc ấy phải học tập những tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đưa về, rồi tự Diên An (Trung Quốc) đưa sang. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có, chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Theo ông Hữu Loan: Khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?” Ông Trường Chinh sửng sốt: “Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.” Tố Hữu là một trong những nhà lãnh đạo hăng hái đưa “hiện thực XHCN” vào văn nghệ. Trong khi Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… phản đối đường lối này. Những người phản đối sau đó, lần lượt dính vào một vụ án gọi là “Nhân Văn Giai Phẩm”.
Phong trào Giai phẩm và Nhân Văn bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Trần Dần là người phê nặng lời nhất. Tuy nhiều người tán thành với nhận xét này nhưng tập thơ vẫn giành được giải nhất đầu năm 1956. Về sau, nhóm Nhân Văn còn viết nhiều bài được coi như là những “Thất Trảm Sớ”, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước Pháp quyền. Ngày nay, nếu đọc lại những bài viết của nhóm Nhân Văn, phải công nhận là nước ta đã từng có những nhà trí thức khả kính. Đất nước ra nông nỗi hiện nay là bởi lịch sử đã không chọn họ. Trần Hữu Đang bị tù 17 năm; Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”: 7 năm tù giam; Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha; Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm… Khi Hoàng Cầm cho in Nhất Định Thắng, Trần Dần bị mất chức và sau đó bị bắt giam. Nếu Trần Dần không dùng lưỡi lam rạch cổ, có lẽ thời gian “ở trong lao” của ông không chỉ là 3 tháng. Trong tình cảnh ấy, mấy câu thơ: Những ngày ấy bao nhiêu thương xót/Tôi bước đi/không thấy phố/không thấy nhà/Chỉ thấy mưa sa/ trên màu cờ đỏ… không hẳn là không mang ít nhiều ẩn dụ chính trị.
Cho dù phải sau khi Tố Hữu chết, các ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt… mới được “chiêu tuyết”, vụ “Nhân Văn” không đơn giản chỉ là những vấn đề giữa các cá nhân với nhau. Một nhà nghiên cứu viết, ở thời điểm ấy, thay đổi là một quy luật. Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng; hay xa lánh như Nguyên Hồng. Người không biết, thì đành phải sa hầm sẩy hố… Kể ra thì, các bác ấy sống quá tử tế, làm thơ quá thơ, tính đa nghĩa trong thơ của các bác ấy thật dễ để mà suy diễn. Nếu, 50 năm trước, các bác ấy cứ theo Tố Hữu, viết huỵch toẹt: Má thét lớn tụi bay đồ chó/Cướp nước tao, cắt cổ dân tao…; hay thật xạo: Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin… rồi trơ trẽn khi nghe tin Stalin chết: Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười, thì cuộc đời các bác ấy chắc chắn đã không phải thế.
Viết như thế không chỉ giúp Tố Hữu leo dần tới BCT, đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu này lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế cho đất nước. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của ông ở góc độ “giá lương tiền”. Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tổ Hữu. Bài thi nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã tưởng đấy là thơ. Dân trí đã từng bị đặt trong cái “thênh thang 8 thước” đó. Nay thì Tố Hữu đã chết. Mới đây, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính bằng đô la cũng hơn 7 triệu.
Trong khi những người như Tố Hữu được ban những bổng lộc như vậy, những người như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đọa đày. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan, kể: “Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học.” Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì lý lịch của một kẻ “Nhân Văn”. Một người con thi đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ: “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”. Ông giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày”.
Đôi khi nghĩ, những người như Hữu Loan, Trần Dần dại thật. Nhưng, Những ngày ấy bao nhiêu thương xót, làm sao có thể bắt những người như các ông có thể quay lưng lại với nhân dân!
- Theo Osin’s Blog (http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=3079)
CHUYÊN CƠ – XÓT TIỀN DÂN
September 27, 2008Dùng chuyên cơ có thể nói là xa xỉ. Nhiều nước giàu đã bỏ chế độ chuyên cơ, nhưng nước nghèo như Việt Nam ta thì chưa. Giá thuê chuyên cơ 1 triệu USD/tháng, nằm không ở sân bay cũng mất 30.000USD/ngày. Những con số ấy làm tôi giật mình sờ túi xem lại ví. Vậy mà nó lại như là một “tất nhiên” hoang lạnh trong ý thức công dân. Thấy bài viết rất hay về vấn đề này trên Blog của nhà báo Huy Đức, tôi khênh về đây mời bạn cùng xem và suy ngẫm…

Vào lúc 9 giờ 45 sáng 24-3, trên đường lăn vào nhà ga Nội Bài, chiếc máy bay Airbus của hãng hàng không Thái dừng lại trước cửa nhà khách A cho một đoàn khách VIP bước xuống. Lúc này, nhiều hành khách Việt Nam ngồi ở khoang business class trên chuyến bay mang số hiệu TG 682, mới biết, vị khách ngồi ở ghế 1A chính là Tân Thủ tướng Thái Lan Samak Sundaravej. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên được ông Samak tới thăm kể từ khi ông trở thành Thủ tướng.
Ông Samak không phải là vị nguyên thủ đầu tiên đến Việt Nam bằng máy bay khách. Năm ngoái Thủ tướng Singapore đã tới Việt Nam trên một chuyến bay thường của hãng Singapore Airlines và trở về trên một chuyến bay khác của hãng hàng không giá rẻ, Tiger Airways. Thủ tướng Hàn Quốc và phần lớn các vị nguyên thủ khác cũng đã công du Việt Nam bằng các phương tiện phổ thông. Hiện nay, trên Thế giới, chỉ còn một số rất ít các quốc gia áp dụng chế độ chuyên cơ cho các nguyên thủ như: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Chính phủ Anh, tuy vẫn chưa “thanh lý” chiếc Boeing 747 “sắm” từ 40 năm trước, nhưng, từ thời ông Tony Blair, các nguyên thủ của quốc gia giàu có vào hàng nhất Thế giới này đã không còn mấy khi đi lại bằng chuyên cơ nữa. Ở Pháp, chế độ chuyên cơ được chính thức bãi bỏ kể từ khi Tổng thống Jacques Chirac lên nắm quyền.
Đương thời, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã từng mua vé như những hành hành khách bình thường, cho mình và đoàn tùy tùng, thay vì dùng chuyên cơ như thông lệ. Ông nói: “Nước nghèo, dân nghèo, lãnh đạo phải tiết kiệm”. Tuy nhiên, ngay chính Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và những người kế nhiệm, đã không đủ can đảm để từ chối những chuyến chuyên cơ oai vệ. Không chỉ nằm trong nhóm rất ít quốc gia còn áp dụng chế độ chuyên cơ cho nguyên thủ, Việt Nam còn là nước áp dụng chế độ xa xỉ này cho những 4 chức danh: Tổng Bí thư chuyên cơ; Chủ Tịch Nước chuyên cơ; Thủ tướng chuyên cơ và Chủ tịch Quốc hội cũng chuyên cơ luôn!
Hầu hết đội tàu bay của hãng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay là máy bay thuê hoặc mua bằng nguồn vốn vay ngân hàng nước ngoài, do Chính phủ bảo lãnh. Giá thuê một chiếc Boeing 777, loại vẫn thường sử dụng bay chuyên cơ, không dưới 1 triệu USD/tháng. Không chỉ tốn kém khi bay, cứ mỗi ngày nằm “đợi xếp” ở các sân bay, những chiếc chuyên cơ này vẫn phải trả phí “giờ chết” khoảng 30 nghìn USD/ngày, chưa kể các chi phí sân đậu, cất, hạ cánh…, chi phí cho tiếp viên, tổ lái. Cứ mỗi chuyến bay phục vụ “công du” như thế ngốn của ngân sách không dưới 400 nghìn, có chuyến tốn hơn cả triệu đô la Mỹ. Năm 2000, khi mà khoảng hơn 40% dân số Việt Nam vẫn sống dưới mức 1 USD/ngày, các nguyên thủ của nhiều quốc gia giàu có, đến New York dự họp Đại Hội Đồng Liên hợp Quốc, đã phải “kính nể” chứng kiến chiếc chuyên cơ chở Chủ tịch Trần Đức Lương đậu nhiều ngày trên sân bay JFK. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, người kế nhiệm ông Lương, có những chuyến công du, đã định trưng dụng tới 2 máy bay loại mới.
Trong thời gian điều máy bay theo hầu nguyên thủ, Việtnam Airlines thường phải “thuê nóng” một máy bay khác để thay thế. Giá thuê rất cao, tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể “thuê nóng” được máy bay, thế là, Viêtnam Airlines đành phải hủy hay giảm chuyến, dẫn đến tình trạng máy bay bị “đì- lây” liên tục. Hành khách, không biết lỗi này do bởi “chuyên cơ”, mạt sát Hàng không cả trên báo chí.
Các nhà lãnh đạo của ta khi đi công tác trong nước, tiết kiệm hơn, chỉ dùng “chuyên khoang” thay cho chuyên cơ. Tuy nhiên, nhà chức trách hàng không ở các sân bay, để… chủ yếu, làm vừa lòng “các anh”, đã áp dụng “chế độ chuyên cơ” cho những chuyến bay có “khoang chuyên” đó. Theo quy chế, sân bay sẽ bị “đóng cửa” khoảng 30 phút chờ máy bay bay theo “chế độ chuyên cơ” cất hay hạ cánh. Có ít nhất 10 chuyến bay phải nằm đợi dưới sân hoặc lượn trên trời cho một chuyến “chuyên cơ” như thế. Chi phí cho mỗi giờ bay chờ như vậy tốn khoảng 10.000 USD/máy bay. Hiện nay, Việt Nam là nước duy nhất áp dụng quy định tạm “đóng cửa sân bay cho chuyên cơ”. Thật xấu hổ khi bay vào lãnh thổ một nước nghèo như Việt Nam, mà lại nghe phi hành đoàn xướng lên: “Vì có hoạt động chuyên cơ, máy bay phải lượn chờ trước khi hạ cánh”.
An toàn cho các vị nguyên thủ cũng cần thiết. Tuy nhiên, trong hàng không, an toàn là một tiêu chuẩn phải tuân thủ tuyệt đối, bất kể hành khách là thường dân hay chính trị gia. Không một chuyến bay nào được phép cất cánh nếu có bất cứ một nghi vấn nhỏ nào về vấn đề an toàn. Chính vì thế mà trừ những quốc gia lắm tiền nhiều của hoặc có vấn đề về khủng bố, an ninh, hầu hết các nguyên thủ, đều di chuyển bằng máy bay thương mại. Khi phải mua vé, thay vì trưng dụng hẳn một chiếc Boeing, các vị nguyên thủ, cũng sẽ không kéo theo quá nhiều “bầu đoàn thê tử”.

Trên “phương diện quốc gia”, trong những tình huống cần thiết, các vị nguyên thủ hoàn toàn có thể sử dụng một chuyến bay riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của ngành hàng không như hiện nay, xài “chuyên cơ” chỉ có ý nghĩa lấy le với thiên hạ. Có thể lãnh đạo ở các quốc gia khác không quan trọng như ta. Nhưng, không phải tự nhiên mà ở những nước có GDP/người lên đến 20.000- 30.000 USD, các vị nguyên thủ vẫn không dùng chuyên cơ. Uy tín của các chính trị gia, không hơn thua ở chỗ sử dụng máy bay nhỏ hay to, mà ở chỗ, các vị ấy có biết trân trọng tiền của dân đóng thuế.
….
PS: Một nhà ngoại giao sau khi đọc bản thảo bài này đề nghị bổ sung: Các vị đang đi sứ ở các cường quốc, mỗi khi về nhà là lại được gợi ý, “Cậu làm thế nào cho nó mời mình chuyến nhỉ!”. Ông bảo, có những nước thực sự muốn mời; có những nước muốn có bang giao tốt đẹp nhưng thấy lãnh đạo không cần thiết phải qua lại làm gì; nhiều nước rất khó chịu khi phải tiếp đón. Lãnh đạo người ta công việc nhiều, mình đến lại chẳng làm sang được gì cho họ. Cứ theo dõi báo chí, truyền hình thì thấy, nhiều khi lãnh đạo mình sang, rầm rập chuyên cơ mà báo chí nó không có một dòng cho phải phép. Việc ký kết trong các chuyến công du cũng chỉ chủ yếu là do các công ty PR dàn dựng, sao cho đẹp mặt. Tinh ý, sẽ thấy, các “bản ghi nhớ” được ký vô cùng hoành tráng ấy, rất hiếm khi thành hiện thực.
- Osin’s Blog
Cho tôi xin một … chút “sự thật”
September 24, 2008Có một dòng dư luận khác đang nói lên những suy nghĩ của mình. Tôi xin trích đăng để những ai quan tâm thao khảo thêm!
—-
Mấy hôm nay, trên diễn đàn báo điện tử, tôi thấy mọi người hay nhắc tới “sự thật”. Và tôi tự hỏi, sự thật là gì vậy nhỉ, và tôi đã được thấy sự thật bao giờ chưa qua những sự việc diễn ra hàng ngày trong cuộc sống ?
Sự thật không phải là thứ quý và hiếm như kim cương, nhưng cũng không rẻ bèo như nước sông hồ, tuy nhiên thiếu sự thật, con tim ta sẽ chết, con tim đúng nghĩa không thể sống trong gian trá và lừa lọc được.
Vậy thì quanh tôi thực sự có sự thật hay không? Bạn đọc nào có sự thật cho tôi xin một chút với, hoặc chí ít cũng chỉ giúp cho tôi sự thật nằm ở đâu ?
* Số là ở quê tôi có một con đường lớn, tên gọi là đại lộ Đông Tây, vì nó chạy từ đàng Đông qua đàng Tây. Con đường này thi công ngót ngét cũng gần chục năm rồi, do Nhật cho vay tiền để làm. Mấy bữa rày, tin tức từ nước Nhật báo về, Chính phủ nước họ đã truy tố và bắt giam 4 quan chức của một công ty tư vấn do đã có hành vi đưa hối lộ cho các quan chức Việt Nam để được trúng thầu tư vấn cho công trình làm đường này, số tiền hối lộ lên tới 800.000 đôla mỹ (tương đương khoảng 14 tỷ đồng tiền VN). Theo thiển nghĩ, một đất nước văn minh khi bắt giam ai thì phải có chứng cứ chắc chắn. Và đương nhiên có người đưa thì phải có người nhận, chứ không lẽ các quan chức nọ lại đem tiền qua VN để giúp đỡ cho người nghèo.
Lạ thay ở Việt Nam, một quan chức thứ trưởng Bộ Ngoại giao lại phát biểu trước công chúng : Tại VN, mọi công việc đều tiến hành đúng quy định (hiểu ngầm là không có người nhận hối lộ), và còn nhắc nhở báo chí Nhật phải đưa tin cho cẩn trọng. Và làng báo chí VN cũng chẳng mặn mà gì mà nhảy vào cuộc trước những tin tức thiếu cẩn trọng kia từ phiá Nhật.
Vậy thì sự thật nằm ở đâu, các bạn chỉ cho tôi với !
Và rồi đến nay, Chính phủ VN vẫn chưa điều tra ra được có quan chức VN nào nhận số tiền không lồ kia hay không. Chắc là không rồi, vì sự việc đã rành rành như vậy rồi, nếu có quan chức nào nhận hối lộ thì sẽ thấy liền, đàng này điều tra quá chừng mà không thấy. Thật là nước Nhật rắc rối, đã đem tiền qua cho VN vay lại còn đòi điều tra quan chức VN nhận hối lộ nữa.
Sự thật ơi, mi ở đâu ?
* Rồi việc nhà báo nước ngoài bị đánh chảy máu đầu mà phát ngôn viên của VN quả quyết không có chuyện đó. Vậy bức hình trên mạng cho thấy máu chảy ra sau cổ của anh chàng nhà báo kia là gì vậy ? Chẳng lẽ người đại diện cho Chính phủ VN lại nói sai ?

Sự thật ơi, mi ở đâu ?
* Rồi việc phong toả Toà Khâm sứ để thi công xây dựng công viên. Chính phát ngôn viên của UBND TP Hà Nội tuyên bố là hoàn toàn không có phong toả, mà chỉ có phân luồng giao thông. Phân luồng giao thông bằng hàng rào sắt và kẽm gai ? Vậy ai là người nói sai ?

Sự thật ơi, mi ở đâu ?
* Rồi sáng nay tin tức đồng loạt ở các báo đăng công văn của ông CT UBND TP Hà Nội cảnh cáo ông Kiệt, tổng Giám Mục Hà Nội vì đã có phát ngôn từ “nhục nhã”, làm tổn thương lòng yêu nước của người VN.
Lập tức mở mạng lên xem diễn đàn thì ô hay, lời phát biểu kia là quá tuyệt vời rồi, làm sao để VN được sánh vai ngang bằng với Nhật, Hàn Quốc là điều mà ai chẳng mong muốn nếu là một người VN chân chính ?

Vậy mà chẳng lẽ toàn bộ bộ máy tuyên truyền của Chính phủ lại không nhận ra được ý tứ của ông Kiệt trong câu nói ấy hay sao mà lại đồng loạt lên tiếng chỉ trích ? Chẳng lẽ không còn dù chỉ một người nhận ra hay sao ?
Sự thật ơi, mi ở đâu ?
* Rồi cũng sáng nay, trên mạng đầy dẫy những hình ảnh manh động đập phá nhà tu, nhà thờ, mà sao không thấy CS cơ động, CS chống bạo động và chó nghiệp vụ đâu cả vậy ? Tại sao không có khởi tố như đã khởi tố một số người manh động phá bức tường trị giá 3.700.000 đ của Cty Chiến Thắng ?
Rồi đồng loạt các báo của Chính Phủ không thấy đưa tin này như đã đưa tin UBND TP Hà Nội cảnh cáo ông Kiệt nhỉ ?

Đấy. Tôi mới chỉ nêu ra có vài sự việc nhỏ ấy thôi mà đã thấy tìm kiếm sự thật khó khăn như thế nào rồi.
Nhiều lúc tôi tự hỏi, sống trong xã hội văn minh ngày nay, sự thật quý hiếm đến như vậy sao ? Chính vì quý hiếm như vậy nên nhiều người luôn muốn giấu đi sự thật, không dám nói lên sự thật. Thậm chí trốn tránh sự thật, không dám đối mặt với sự thật. Và làm như vậy là người ta đã giết chết sự thật.
Một khi đã không có sự thật để sử dụng, để nói, thì người ta phải nói dối, phải lấy sự gian trá thủ đoạn để đối xử với nhau, và một khi đã dùng thứ đó để đối xử với nhau thì người ta không còn là CON NGƯỜI nữa rồi.
Nhưng vì bản chất của sự thật lại là ánh sáng, là chân lý, nó phải được toả sáng cho tất cả mọi người cùng hưởng. Một xã hội trong sạch cần phải có được sự thật, cần phải được bầu không khí sự thật nuôi dưỡng, như cơ thể sống con người cần có bầu không khí trong lành để thở.
Chính vì vậy, tôi thiết nghĩ mọi người hãy cùng nhau phát động phong trào đi tìm sự thật. Tất cả mọi người hãy cùng nhau mạnh dạn nói lên sự thật, bênh vực sự thật, làm chứng cho sự thật. Tất cả mọi người hãy cùng nhau chung tay góp sức diệt trừ gian trá thủ đoạn, tạo ra một môi trường lành mạnh cho sự thật đơm hoa kết trái.
Có như vậy, cơ thể sống Việt Nam của chúng ta mới có đủ sức mạnh cường tráng để vươn vai sánh ngang bằng với các nước trên thế giới.
- viet_tuonglai
Chống lạm phát tầm như chống kẹt xe
September 23, 2008Đây là bài viết được đăng lâu rồi trên một tờ báo. Tuy nhiên, hiện nay nó vẫn còn nguyên giá trị.
Nhằm mục đích nhắc nhỡ lại cho chính quyền, nhà nước thấy được những suy nghĩ “tầm thường” của mình, xin trân trọng giới thiệu lại bài viết cho quý độc giả xem lại.
Những chủ trương và chỉ đạo của Thủ tướng về chống lạm phát là khá toàn diện và nhận được sự đồng thuận của dư luận trong cũng như ngoài nước. Nhưng cái đáng nói là khâu triển khai thực hiện còn có quá nhiều bất cập. Chung qui lại cũng nằm ở cái tầm của các cơ quan tham mưu, đến mức mà tư duy chống lạm phát của ta có quá nhiều điểm tương đồng với tư duy chống kẹt xe.
>> Qui rõ trách nhiệm để lạm phát cao
Dưới đây là cách mà một số giải pháp triển khai chống lạm phát được cho là có nguồn gốc từ các giải pháp chống kẹt xe.
1. Đâu phải tại xe nhiều
Ùn tắc giao thông do xe nhiều, chống ùn tắc do đó phải giảm bớt xe. Cũng với lối suy nghĩ ấy, lạm phát được qui ngay là do tiền nhiều, vì vậy đơn giản là hút tiền về càng nhiều càng tốt, bất chấp hậu quả các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả lâm vào tình trạng thiếu vốn nặng nề hay không.
Kẹt xe do hậu quả của một chính sách phát triển đô thị không giống ai, chứ đâu phải lỗi tại xe nhiều; lạm phát lại có nguồn gốc sâu xa từ đầu tư công lãng phí triền miên và in tiền chi tiêu cho ngân sách chứ đâu phải hoàn toàn do tiền quá nhiều trong lưu thông. Chống lạm phát không hiểu vì sao quá giống với tư duy chống kẹt xe. Tư duy chống lạm phát của ngành tài chính – ngân hàng theo kiểu này không xứng với tầm cỡ một cơ quan đầu não tài chính tiền tệ của quốc gia. Chống lạm phát theo lối giản đơn như thế vì vậy làm cho lạm phát ngày càng bị biến chứng và càng khó điều trị.
2. Nói sao cũng được
Các nhà làm chính sách thường hay có bệnh tìm cách né tránh sự thật. Như kẹt xe chẳng hạn, họ không đồng tình với cách mà các chuyên gia gọi là “tắc đường”, tính toán kỹ chỉ có nghẽn đường cục bộ chứ không có cái gọi là tắc đường hay ùn tắc giao thông nghiêm trọng, vì vậy chỉ cần điều chỉnh lại giờ làm việc và giờ học là sẽ hết kẹt xe (thực tế các giải pháp này đã bị phá sản). Không chịu kém, các nhà hoạch định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia tỏ ra tâm đắc với lập luận này bằng việc cho ra đời cách tính toán lạm phát mới để làm giảm lạm phát.
Thật vậy, cách tính mới cho thấy lạm phát năm 2007 chỉ còn khoảng 8% (thực tế gần 13% và con số thực tế được dự đoán còn cao hơn nhiều). Có điều bất chấp các tính toán hàn lâm là như thế nào, lạm phát đang làm cho chất lượng sống của đại bộ phận người dân ngày càng giảm sút.
3. Phi luật, phi thị trường
Thường trong những lúc mất phương hướng, con người ta có khuynh hướng đưa ra các mệnh lệnh hành chính. Đó là cách dễ dàng nhất và cũng là bế tắc nhất. Chỉ cần đưa ra các mệnh lệnh, như tăng phí sử dụng xe hay phí cầu đường cho thật cao thì sẽ hết kẹt xe. Ngành ngân hàng cũng đã ứng dụng cách chống kẹt xe này bằng các mệnh lệnh phi thị trường, thậm chí phi luật, gần đây nhất là yêu cầu các ngân hàng huy động lãi suất không được vượt mức trần.
Họ dám đi ngược với chỉ đạo của Thủ tướng về việc ngành ngân hàng phải thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Thế là người dân rút tiền ra khỏi ngân hàng để mua vàng, xe hơi… để khỏi phải chịu thiệt. Tiền không hút vào ngân hàng mà dùng để tiêu dùng thì lạm phát khó lòng giảm được như mong đợi.
4. Sợ ông lớn chết
Xe nhiều sợ tắc đường nhưng lại sợ ông khổng lồ xe buýt phá sản nên ưu ái quá đáng cho xe buýt chạy ào ạt, thậm chí vào các đường nhỏ, trên xe nhiều khi chỉ lác đác vài hành khách. Chống lạm phát cũng vậy, thắt chặt tiền tệ nhưng sợ một số nhóm lợi ích bị ảnh hưởng. Thế là tiền được bơm ra để cứu ông lớn chứng khoán. Hoặc mới đây, một số tập đoàn kinh tế nhà nước than thiếu tiền do chính sách thắt chặt tiền tệ chống lạm phát, thế là một quan chức lập tức tuyên bố sẽ không để cho việc thiếu tiền của các tập đoàn nhà nước xảy ra.
Cách tư duy chống lạm phát tầm như chống kẹt xe như thế đi ngược với chỉ đạo của Thủ tướng (chống lạm phát cần sự đồng thuận và chia sẻ). Đồng thuận đâu không thấy mà chỉ thấy các tập đoàn than vãn, hăm he đòi tăng giá; chia sẻ đâu không thấy mà chỉ thấy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhà xuất khẩu và người dân là chịu thiệt thòi nhiều nhất từ cách chống lạm phát méo mó của các bộ ngành tham mưu cho Thủ tướng.
5. Đổ thêm dầu vào lửa
Đường sá nước ta cứ liên tục bị đào xới, ùn tắc giao thông nghiêm trọng là điều hiển nhiên, giống như đổ thêm dầu vào lửa kẹt xe. Lạm phát dường như đang đi đúng quĩ đạo của những sai lầm này. Đang trong lúc lạm phát nóng lên và hoàn toàn không có dấu hiệu gì hạ nhiệt thì các tập đoàn kinh tế nhà nước lại đòi tăng giá xăng dầu, điện, than và cả sách giáo khoa; hoặc như quản lý nhà nước kiểu gì mà để cho có lúc giá gạo tăng lên đến gần 20.000 đồng/kg.
Nếu không tìm cách giải quyết dứt điểm những bất cập trong hệ thống kinh doanh và phân phối (độc quyền) lúa gạo, thuốc men, xăng dầu, điện nước, sách giáo khoa thì sẽ càng có thêm nhiều dầu hơn nữa đổ vào lửa lạm phát trong năm 2008.
6. Không quan tâm đến người nghèo
Do quan niệm kẹt xe có nguồn gốc từ xe ba gác máy và người bán hàng rong, thế là cấm ngay lập tức mà không cần biết số phận người lao động ra sao. Chống lạm phát cũng thế, do lo sợ nguồn cung ứng gạo khan hiếm làm tăng giá lương thực nên ngừng xuất khẩu gạo. Nhưng chính lệnh ngừng xuất khẩu gạo lại là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho các cai đầu dài đầu cơ tích trữ làm tăng giá gạo.
Chính sách đưa ra nhưng không lường hết hậu quả khiến cuộc sống của người lao động và nông dân ngày càng lâm vào cảnh khó khăn. Người nghèo phải trả giá nhiều nhất cho các sai lầm chính sách.
7. Các ông lớn làm cho tình hình thêm trầm trọng
Việc Hà Nội và TP.HCM liên tục bị vây hãm giữa muôn trùng vây các lô cốt của các ông lớn ngành xây dựng là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến kẹt xe triền miên. Cảnh tượng này cũng giống như các đại tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư dàn trải hàng trăm nghìn tỉ đồng vào việc kinh doanh bóng đèn, khách sạn, ngân hàng, chứng khoán và bất động sản vậy. Luồng tiền nóng và không hiệu quả này là thủ phạm góp phần vào lạm phát.
Do chạy theo kinh doanh những ngành nghề không thuộc sở trường của mình, các tập đoàn nhà nước đã không chú ý đến việc giảm giá thành sản phẩm, thất thoát điện năng và do đó góp phần làm gia tăng lạm phát. Hoặc “lơ đãng” đến mức bỏ quên hàng chục triệu tấn than, mà đáng lý chúng phải được cung ứng ra thị trường để góp phần giảm giá hàng nguyên liệu sản xuất, thì nguy hiểm thay chúng lại được xuất khẩu lậu vào tay “kẻ khác”. Tội này thật nặng vô cùng!
8. Thiếu bộ óc chỉ huy
Để chống kẹt xe, ngay lập tức ban chỉ đạo thường trực chống kẹt xe được thành lập. Để chống lạm phát, hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cũng đã được thành lập theo. Nhưng khác với các nước, ở ta các hội đồng này được lập ra nhưng không được giao quyền tương xứng mà chỉ dừng lại ở mức tư vấn chung chung.
Rất khó lòng chống được lạm phát nếu không giao cho hội đồng thực quyền “tiền trảm hậu tấu” – như được quyền ra lệnh cho các tập đoàn không được đầu tư tràn lan, ngành ngân hàng không được toa rập với nhau chèn ép khách hàng bằng cách khống chế trần lãi suất – thay vì trình thưa chờ nghiên cứu hoặc im lặng.
9. Cuối cùng: không ai chịu trách nhiệm
Ngành giao thông công chính, các quận huyện liên tục đổ lỗi lẫn nhau về tình trạng kẹt xe ngày càng nghiêm trọng. Ngành tài chính – ngân hàng và các bộ ngành khác cũng kế thừa cách đổ lỗi lẫn nhau về trách nhiệm để lạm phát bùng lên. Rốt cuộc cho đến giờ chẳng có ai là người chịu trách nhiệm. Tất cả đều được qui cho nguyên nhân khách quan, quản lý và dự báo kém.
***
Những minh họa trên đây cho thấy đậm dấu ấn của lối suy nghĩ hời hợt và thiếu trách nhiệm của các cơ quan chức năng trước các biến động kinh tế – xã hội phức tạp của quá trình hội nhập.
Hời hợt đến nỗi tư duy và những giải pháp chống lạm phát của ngành tài chính – ngân hàng cũng không khác gì tư duy và giải pháp chống kẹt xe của ngành giao thông công chính, trong khi các công cụ và giải pháp chống lạm phát đòi hỏi phải nắm vững các qui luật của kinh tế thị trường, và việc truy tìm nguyên nhân của lạm phát khác hoàn toàn với lối tư duy đếm xe trên đường của ngành giao thông công chính. Tư duy như thế có khi lại là nguyên nhân hàng đầu góp phần vào lạm phát tăng tốc thời gian qua.
Những giải pháp cụ thể của các bộ ngành, nhất là ngành tài chính – ngân hàng, vì vậy vẫn còn chưa theo kịp nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Thủ tướng trong việc triển khai các giải pháp chống lạm phát, cho dù họ liên tục được ưu ái nhận trách nhiệm giải trình trách nhiệm trước Quốc hội.
- GS-TS TRẦN NGỌC THƠ
CHÍ PHÈO … THỜI HIỆN ĐẠI
August 31, 2008Xuất xứ từ những câu chuyện cũ và mới do đồng bào người dân tộc thiểu số vùng cao với tư duy thật thà thẳng thắn hơn cả đếm tạo thành chuyện buồn cười, văn minh ngược đời. Ví dụ có anh cán bộ xã bị phạt vì có con thứ 4 thì ngạc nhiên thật sự vì tưởng rằng chỉ có hại người mới phải tội chứ làm ra người sao lại có tội được? Hay như cách xưng hô từ trên xuống dưới, thậm chí với cả người thi hành pháp luật cũng cùng ngôi mày tao chí tớ!
Rồi một số ngôn từ thường ngày như lười hết phần con lợn, ngu tranh phần con chó… chỉ diễn ở vùng cao hẻo lánh chứ đố ai dám dùng trong một đô thị công nghiệp nào, nếu không muốn quy cho cái tội hiển nhiên là cãi chày cối, bất lịch sự, thích gây chuyện… Rõ ràng quy phạm văn hoá và tập tục phải tùy nơi, tùy hoàn cảnh và đối tượng mới được chấp nhận, nếu đem từ chỗ này ghép vào chỗ khác sẽ bị coi là Chí Phèo đời mới. Vậy nhưng không hiểu sao một dạng bệnh vô tư hại người lại lây lan khắp nơi, thành bệnh khá phổ biến trong xã hội khiến người Kinh hiện đại cũng phải lắc đầu quầy quậy: @ bó tay chấm com! Lịch sự thì ngán ngẩm thở dài đó là cái lý của người Mèo, bực mình thì xếp hạng Chí cho cái sự cùn gỉ trong một xã hội văn minh.
Nói đến cùn ngang, cùn ngạnh cũng không nên chủ quan mà khẳng định rằng chỉ có độc tôn Chí Phèo, cái cùn của anh Chí một phần cũng do địa vị xã hội thấp kém, bất mãn với cuộc đời và lại thêm chai rượu giúp sức, hậu duệ của anh chàng này chắc chắn không được chân truyền mà địa vị xã hội cao hơn nhiều ấy vậy lại Chí đến mức tai tiếng không thể tượng tượng được. Chuyện gì cũng phải có trình tự, vì thế ngay cả chuyện cùn cũng cần phải liệt kê từ bậc có trách nhiệm, chức sắc thuộc diện trên chỉ đạo mãi dưới không chịu nghe. Trước hết là chốn công đường, tuy không phải ai cũng là Thanh thiên đại nhân nhưng sai thì phải sửa, thế nhưng các vị cầm cân nảy mực công lý ở tỉnh Đ.T bị kiện ngược vì xử án nhầm, bắt khổ chủ đi tù oan trăm năm thiệt hại cả về danh dự và vật chất mà phớt lờ ăng-lê chẳng chịu đền bồi một số lãnh đạo ở C.M còn lập danh sách nhận nhà đoàn kết tượng trưng, phát tiền cho người đến dự để quay phim chụp ảnh, xong đến tận nhà bắt truy nộp lại, ở tỉnh Q.B, một gia đình phát hiện ra bom trong sân chưa nổ, nhắc mãi cơ quan chức năng không xử lý bèn vần ra khỏi nhà, nhưng chính quyền nhanh chóng bắt phải mang bom về nhà đồng thời giao trách nhiệm trông giữ? Tương tự, nhân dân ở tỉnh K.T cũng phát hiện ra quả bom 400kg mà huyện cũng không nghĩ ra cách xử lý bèn giao cho xã, xã vui vẻ giao lại trách nhiệm trông giữ quả bom lạnh tanh cho thôn và tất nhiên thôn còn biết làm gì ngoài chờ bom nổ? Rồi chủ tịch phường ở Q.N cũng lập hồ sơ, làm giả 200 ngôi mộ để nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng, mấy ông phường ở H.N còn đế nhà xây trái phép quá giới hạn về chiều cao – độ phình nhưng vẫn phạt cho tồn tại chiều cao đến khi thành phố phải ra tay cắt ngọn, ông Sở Điện lực S.G còn bắt hàng nghìn hộ dân phải thay công tơ đang dùng bằng điện kế điện tử rởm, và từ chuyện hai vị đứng đầu thành phố C.T đồng loạt bị kỷ luật vì lũng đoạn quyền lực, lãnh đạo thiếu trách nhiệm tho đến mấy anh trông xe trong các công sở vẫn ngang nhiên thu tiền của khách đến làm việc mặc dù Thủ tướng đã có lệnh miễn thu phí… mới thấy hết sự cùn của những người thi hành công vụ đã đến mức trầm kha lắm rồi.
Ngoài ra còn vô khối chuyện khó tin mà có thật như: đốt rừng lấy đất, ruộng vườn trồng trọt bị xắn ra, xây nhà bán, nhập rác thải ô nhiễm vào để thu tiền, tái chế thủ công rác thải y tê làm đồ dân dụng, thi nhau học giả ngoài giờ để lấy bằng thật, vỉa hè và lòng đường chưa dừng cuộc chiến cam go, cũng như quy hoạch và mặt bằng chưa bao giờ đồng bộ… Vì thế, cũng không nên thắc mắc, băn khoăn nhiều với những hiện tượng tưởng chừng không thể mà vẫn xảy ra giữa những người bình thường trong xã hội. Trong thành phố, các vụ lấn chiếm diện tích công cộng, hè phố, sân thời họp chợ cóc là bình thường. Chuyện đổ rác, phóng uế bừa bãi, kẻ quảng cáo số điện thoại nhan nhản các bức tường hay rải thảm tờ rơi bay như bướm đã thành chuyện nhỏ như lông thỏ con rồi. Phổ thông đến bình dân là chuyện Chí trên đường: gặp đèn đỏ dừng lại không khéo bị vài tay đi sau chửi là ngu vì không có Công an sao lại dừng làm gì? Giữa đường ngang nhiên vừa đi vừa loay hoay bấm tin nhắn, tay lái à ơi khiến người đi sau không biết xử lý kiểu gì, vài câu góp ý thể nào cũng sinh chuyện! Vỉa hè thoáng mát nên bày đủ thứ biển quảng cáo, sơn xì rửa xe, đậu ôtô, mở quán và bày cả mâm cơm ra chén tạc chén thù nữa! Họ nhà Chí bây giờ chia ra nhiều chi, nhánh đa dạng phong phú: chuyện trải rơm, đốt trấu mù mịt hay trâu bò ưỡn ẹo trêu ngươi trên quốc lộ đã diễm xưa, các chàng Chí ưa công nghệ tiên tiến thời nay thản nhiên rải đinh ba cạnh trên đường cao tốc phục kích săm lốp để vá chữa xe kiếm tiền, tay Chí nào có chút đầu óc nghệ thuật sẽ đi săn, triệt hạ cây gỗ quý buôn cả mớ kiếm lời, dăm chàng khác yêu thiên nhiên thì rước hẳn chúa sơn lâm về giữa thành phố nấu cao, một số đông thiếu nghiêm túc và không bài bản hơn dòng họ thì ăn sẵn, tức là vặt đủ mọi thứ để bán thành tiền: nào tháo trộm tà vẹt đường ray xe lửa, dỡ thanh giằng cầu, rào chắn giao thông, nhấc nắp hố ga, thó cả bóng đèn, cắt dây chiếu sáng, dây điện thoại… Nhưng kỷ lục Ghi rét của ta (nghĩa là vừa ghi vừa run) là hiện tượng siêu Chí hiếm có hoặc thậm chí chưa từng có ở nước nào: đem cả con dứt ruột đẻ ra bán sang T.Q lấy vài triệu đồng và móc cả trăm tấn cáp quang dưới biển lên bán cân đồng nát?!
Đành rằng đã gọi là giải thích thì thích thế nào có thế giải tùy hứng, nhưng xã hội có thể chấp nhận được cái lý giải ấy không lại là vấn đề phải quan tâm. Với nhiều lý luận quanh co bao biện cho những hành động thuộc dòng Chí thế kỷ XXI, chủ yếu là do nghèo túng hóa liều hoặc thiếu hiểu biết cũng chưa hẳn đã đúng vì có những việc làm liều không phải túng thiếu mà vì vô ý thức, thiếu trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, thậm chí có những chuyện hiểu biết rõ mười mươi vẫn nhắm mắt làm. Càng ngẫm càng thấy thương và cảm thông với anh Chí dòng văn học hơn vì anh chỉ lên cơn tự cào mặt mình ăn vạ và chửi bới, phá quấy cha con cường hào ác bá chứ không hại người dân lương thiện, còn những gã Chí hiện đại lại xoáy, cào, gãi, bòn rút, phá phách của Nhà nước và của cộng đồng xã hội để thỏa mãn nhu cầu tầm thường của bản thân. Khi xã hội và đất nước ngày một phát triển văn minh hơn mà virus bệnh Chí không những chưa có thuốc chữa dứt điểm, mà còn biến dạng nghiêm trọng hơn, quả đáng buồn lo lắm thay?!
- Linh Linh
Một thoáng suy tư về tình yêu
August 29, 2008
Cho những ai đang cô đơn:
Cho những ai không còn cô đơn:

Cho những ai không thật lòng:
- Theo xikechua
Thế thái nhân tình
August 29, 2008Bữa tiệc đã bắt đầu, nhưng họ vẫn chưa tới. Nói chung họ không bao giờ đến đúng giờ, vì họ bận và còn vì họ quan trọng. Chủ tiệc đã mấy lần gọi điện thoại, họ đều trả lời sắp đến, sắp đến và cuối cùng thì họ cũng đến.
Họ vừa từ phòng kiện mỹ trở ra, trên trán vẫn còn lưu mấy giọt mồ hôi kiêu hãnh; họ không mặc âu phục nhưng khắp người đều đầy những đồ tinh xảo khó kiếm, ngay cái bật lửa nho nhỏ cũng là sản phẩm nổi tiếng thế giới. Thế nhưng tửu sắc quá độ đã để lại trên khuôn mặt họ những sắc thái không hoà hợp – những vết sẹo mờ và vệt phấn mà những nụ cười ra vẻ khiêm tốn và thâm trầm không sao che giấu nổi.
Họ ăn nói lịch sự lễ phép, giơ tay nhún chân đều theo khuôn phép. Thế nhưng sau khi uống tay, những lời nói thô tục đã đột ngột tuôn ra khiến bạn đỏ mặt vì bất ngờ. Họ thông hiểu mọi nghi lễ xã giao và ứng dụng nhuần nhuyễn. Họ cố gắng tỏ ra là gentleman trước các bà, các cô, nhưng hễ nói nhiều là lộ sơ hở. Ví dụ như hai mặt trợn tròn lòng trắng, vung tay múa chân lung tung, chẳng còn tí gì là gentleman nữa . Nói đen nghệ thuật, họ có thể không ngần ngại nói ngay giá một bức tranh nào đó của một danh hoạ, nhưng khi nói đến những đặc điểm của bức tranh thì họ lại lúng túng như gà mắc tóc.
Một điều kỳ lạ là họ giấu rất kỹ xuất thân. Bạn không thể tưởng tượng là chỉ trăm năm trước họ đã là những người không đồng xu dính túi , mặc dù xuất thân nghè o khó không hề ảnh hưởng tới việc họ thành thạo sử dụng dao, dĩa ăn bít tết và uống cà phê bây giờ. Trong những người bình thường, xem ra họ là những người khảng khái nhất, giầu có nhất; họ đóng góp, quyên hiến nhiều tiền của vào các công trình từ thiện, lộ mặt thường xuyên tại các hoạt động công ích. Họ có xe riêng, đi đâu thường mang theo con chó nhỏ; họ không thiếu những bạn tình, thư ký riêng; bình thường khi đi đường họ cẩn thận tới mức như sợ dẫm chết mấy con kiến nhỏ, là những người tích cực bảo vệ môi trường, họ không bao giờ vứt bậy dù là một mảnh giấy nhỏ. Họ không ngần ngại khi tiếp xúc với báo chí và đề được lộ mặt trên vô tuyến truyền hình một hai giây họ vẫn sẵn lòng chờ đợi hàng giờ. Họ có thể tuỳ tiện nói ra họ tên một vị quan cao chức trọng nào đó, cũng như số điện thoại hoặc ngày sinh cũng như yêu ghét sở thích của các vị ấy, rồi khẽ khẽ nói với bạn, bọn họ là anh em. Để củng cố lòng tin cho bạn, họ bấm điện thoại di động, nói mấy câu tuỳ tiện với thái độ cực kỳ thân thiết đủ để bạn khâm phục và chừng nào có chút ghen ty.
Bọn họ giống như những anh hùng hào kiệt của thời đại này, đều là những thiên tài và điều người ta không thể tưởng tượng nổi là chỉ trong mấy năm ngắn ngủi họ đã hoàn thành việc tích luỹ tư bản cho cả đội. Lịch sử bùng nổ sự giàu có của họ chỉ có mình họ biết, bởi vì có khi tích luỹ tư bản chỉ là công phu của một đêm, hoặc một chữ ký trên một văn kiện nào đó, sau đấy mọi trở ngại đều bị dẹp xong như con bài đôminô sụp đổ Họ có thế giới quan và nhân sinh quan thực dụng nhất, những quan niệm sâu sắc mà tinh tuý đó nói chung đều là nhân nghĩa đạo đức giả dối. Bọn họ có bộ thần kinh thép không bao giờ bị tình cảm, ngoại cảnh chi phối, mãi mãi đi theo con đường mà mình đã vạch. Họ giống như những tay chơi bài lão luyện, nói chung bao giờ cũng tung con bài trong tay mình ra khi chắc chắn sẽ thu lợi lớn họ là những người hiểu đạo lý không biết nhẫn cái nhỏ sẽ loạn mưu lớn” sâu sắc hơn ai hết, cho nên khi thấy thời cơ có lợi thì họ không bao giờ ngần ngại xuất kích.
Thế nhưng bọn họ lại không phân biệt nổi sự khác nhau giữa phú ông và quí tộc. Họ nghĩ rằng cứ mặc những bộ quần áo đúng thời trang, cho con cái học ở những trường đắt tiền nhất, ở những biệt thự tại những khu sang trọng nhất, có những mô thời thượng nhất thì đã có thể là quí tộc . Họ không biết rằng trong tiếng Anh, quí tộc ngoài việc chỉ những người ở tầng lớp cao sang ra còn chỉ những người có đạo đức phẩm chất cao thượng, có năng lực tuyệt vời, có phong độ nhã nhặn và có tu dưỡng nghệ thuật. Bọn họ không biết rằng tố chất văn hoá của họ không thể nào tích luỹ nhanh như tích luỹ của cải. Một ngày nào đó họ tự nhiên phát hiện được, tóc trên đầu đã bạc , đã rụng nhiều và trái tim cũng đã tỏ ra mệt mỏi. Nhưng những thày thuốc nổi tiếng đều nói họ không có bệnh, chỉ là vất vả quá thôi. Thế là họ đi nhiều nơi trên thế giới để nghỉ ngơi, rèn luyện thân thể, nhưng kết quả không nhiều.
Bỗng một hôm họ vô tình đi qua khu phố của dân nghèo, những ngôi nhà cũ, những chiếc ống khói thấp tè trên nóc, những mái nhà ngói rêu phong, mấy đám cây leo bám trên hành lang…; tất cả sao lại thân thiết thế. Có phải họ đã tìm lại được chính mình chăng?
Đúng vậy, tôi thấy họ gục đầu xuống gối nức nở.
- Tam Dương
Bước chân trần trên tuyết
August 24, 2008
Một bà cụ nặng nhọc lê bước trên phố. Bà cụ đi chân đất. Trên tuyết. Một đôi trẻ, tay xách lỉnh kỉnh những túi to- vừa nói chuyện vừa cười đến nỗi không để ý thấy bà cụ.

Một người mẹ dẫn hai đứa con nhỏ tới nhà bà ngoại. Họ quá vội nên cũng không để ý.
Một viên chức ôm một chồng sách đi qua. Mải suy nghĩ nên cũng không để ý.
Bà cụ dùng cả hai tay để khép vạt áo đứt hết khuy. Dừng lại, nép vào một góc ở bến xe buýt. Một quý ông ăn mặc lịch lãm cũng đứng đợi xe buýt. Ông cố đứng tránh xa bà cụ một chút. Tất nhiên là bà già rồi, chẳng làm hại được ai, nhưng nhỡ bà ấy bị bệnh lây nhiễm thì sao…
Một cô gái cũng đứng đợi xe buýt. Cô liên tục liếc xuống chân bà cụ, nhưng cũng không nói gì.
Xe buýt tới và bà cụ nặng nhọc bước lên xe. Bà ngồi trên chiếc ghế ngay sau người lái xe. Quý ông và cô gái vội vã chạy xuống cuối xe ngồi. Người lái xe liếc nhìn bà cụ và nghĩ: “Mình không thích phải nhìn thấy cảnh nghèo khổ này chút nào!”.
Một cậu bé chỉ vào bà cụ và kêu lên với mẹ:
- Mẹ ơi, bà ấy đi chân đất! Mẹ bảo những ai hư mới đi chân đất, đúng không mẹ?
Người mẹ hơi ngượng ngập kéo tay con xuống:
- Andrew, không được chỉ vào người khác!- Rồi bà mẹ nhìn ra cửa sổ.
- Bà cụ này chắc phải có con cái trưởng thành rồi chứ!- Một phụ nữ mặc áo choàng lông thì thầm- Con cái của bà ấy nên cảm thấy xấu hổ mới phải!
Người phụ nữ này bỗng cảm thấy mình quả là người tốt, vì mình luôn quan tâm đầy đủ đến mẹ mình.
- Đấy, ai cũng phải học cách tiết kiệm tiền- Một chàng trai ăn mặc bảnh bao thêm vào- Nếu bà ấy biết tiết kiệm từ khi còn trẻ thì bà ấy chẳng nghèo như bây giờ!
Một doanh nhân hào phóng bỗng cảm thấy ái ngại. Ông lấy trong ví ra một tờ 10 đôla, ấn vào bàn tay nhăn nheo của bà cụ, nói giọng hãnh diện:
- Đây, biếu bà! Bà nhớ mua đôi giày mà đi! Rồi ông ta quay về chỗ ngồi, cảm thấy hài lòng và tự hào về mình.

Xe buýt dừng lại khi tới bến và một vài người khách bước lên. Trong số đó có một cậu bé khoảng 16-17 tuổi. Cậu ta mặc chiếc áo khoác to màu xanh và đeo balô cũng to, đang nghe headphone. Cậu trả tiền xe buýt và ngồi ngay vào ghế ngang hàng với bà cụ. Rồi cậu nhìn thấy bà cụ đi chân đất.
Cậu tắt nhạc. Cảm thấy lạnh người. Cậu nhìn từ chân bà cụ sang chân mình. Cậu đang đi một đôi giày cổ lông dành cho trời tuyết. Đôi giày mới tinh và ấm sực. Cậu phải tiết kiệm tiền tiêu vặt khá lâu mới mua được. Bạn bè đứa nào cũng khen!
Nhưng cậu cúi xuống và bắt đầu cởi giày, cởi tất, rồi ngồi xuống sàn xe, bên cạnh bà cụ.
- Bà, cháu có giày đây này!- Cậu nói.
Một cách cẩn thận, cậu ta nhấc bàn chân lạnh cóng, co quắp của bà cụ lên, đi tất và đi giày vào chân bà. Bà cụ sững người, chỉ khe khẽ gật đầu và nói lời cảm ơn rất nhỏ.
Lúc đó, xe buýt dừng. Cậu thanh niên chào bà cụ và xuống xe. Đi chân đất trên tuyết.
Những người khách trên xe thò đầu ra cửa sổ, nhìn đôi chân cậu thanh niên, xôn xao bình phẩm.
- Cậu ta làm sao thế nhỉ?- Một người hỏi.
- Một thiên thần chăng?
- Hay là con trai của Chúa!
Nhưng cậu bé, người ban nãy chỉ vào bà cụ, quay sang nói với mẹ:
- Không phải đâu mẹ ạ! Con đã nhìn rõ rồi mà! Anh ấy là người bình thường thôi!
Và việc làm đó, thật sự, cũng chỉ cần một người bình thường.

- Theo http://thuonghieublog.tk



Posted by vedinh 
Posted by vedinh
Posted by vedinh 











