Đánh vào “gót chân Asin” của Trung Quốc

Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh

Trung Quốc cũng có những điểm mạnh và điểm yếu của mình như một con người. Nếu coi Trung Quốc ngày nay như “cái bóng” e rằng chỉ thấy điểm mạnh mà không dám thấy những điểm yếu của họ. Anh hùng như Asin cũng có tử huyệt nơi gót chân.

Tuy rất thích câu hỏi Diễn đàn Kinh tế Việt Nam đặt ra: “Việt Nam làm gì để phồn vinh cạnh “cái bóng” Trung Quốc?”, nhưng cá nhân người viết không muốn dùng từ “cái bóng”. Ít văn vẻ, cụ thể và bình đẳng hơn, câu hỏi có thể: “Việt Nam chọn chiến lược phát triển nào để phồn vinh bên cạnh sự trỗi dậy của Trung Quốc?”.

Trung Quốc từ lâu, đã là một “người khổng lồ”, lúc thăng, lúc trầm. Kể từ thời đổi mới bắt đầu bằng ông Đặng Tiểu Bình, cho đến khoảng từ những năm đầu của thế kỷ 21, Trung Quốc bắt đầu cho thế giới thấy sự vươn dậy của một người khổng lồ sau giấc ngủ dài. “Người khổng lồ” đương nhiên là rất khỏe, nhưng cũng có những yếu điểm, chẳng thế mà chàng David bé nhỏ có thể hạ được gã khổng lồ Goliah.

Nói thế không phải ám chỉ Việt Nam có thể là chàng David bé nhỏ tài ba, mà chỉ muốn nhìn Trung Quốc như một người khổng lồ, cũng có những điểm mạnh và điểm yếu của mình như một con người. Nếu coi Trung Quốc ngày nay như “cái bóng” e rằng chỉ thấy điểm mạnh mà không dám thấy những điểm yếu của họ. Anh hùng như Asin cũng có tử huyệt nơi gót chân.

Và như tác giả Cảnh Thái đưa ra ví dụ về các nước nhỏ nhưng giàu, đã song song tồn tại cùng phồn vinh bên cạnh sự lớn mạnh của Trung Quốc, như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan nhờ có những chiến lược, bước đi thông minh để thực sự phồn vinh cạnh một Trung Quốc khổng lồ.
Trung Quốc được ví như công xưởng của thế giới (ảnh yoyojoes)

Việt Nam học được kinh nghiệm gì từ những nước đó? Chúng ta phát triển kinh tế chậm hơn, đi sau Trung Quốc trong đổi mới và mở cửa thị trường. Hơn nữa, cũng cần lưu ý rằng, những điểm mạnh mà các nước Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan đang có đều rất có thể sẽ không còn, nhất là khi Trung Quốc vươn mình. Bởi, bản thân Trung Quốc cũng đang đi trên con đường công nghiệp hóa rất giống những nước này, nhất là các mặt hàng công nghiệp điện tử, ôtô.

Trước khi suy nghĩ chiến lược phát triển của Việt Nam bên cạnh Trung Quốc, thử tìm xem “người khổng lồ” này có những điểm mạnh, điểm yếu gì? Có hay không gót chân Asin trong con người người khổng lồ đó?

Đi tìm “gót chân Asin” của Trung Quốc

Dân số đông chính là điểm mạnh, điểm khác biệt lớn nhất của Trung Quốc mà cả thế giới thèm muốn, nhưng không nước nào có được.

Chính vì dân số đông nhất, là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc luôn chọn cho mình chiến lược sản lượng, nghĩa là lấy sản lượng lớn, để giảm giá thành sản xuất; từ đó, có sức cạnh tranh cực mạnh bằng chính sách giá trên toàn cầu. Từ điểm mạnh mang tính cốt lõi này, mà Trung Quốc có một loạt các điểm mạnh phát sinh khác như nhiều bài báo đã viết.

Như chúng ta biết, trong chiến lược sản xuất, kinh doanh người ta nói nhiều về hai chiến lược quan trọng: Chiến lược về giá thấp (cost strategy) và chiến lược về khác biệt (differentiation strategy). Với thị trường quá cỡ như Trung Quốc, một cách gần như tự nhiên, người ta sử dụng lợi thế giá rẻ của chính sách sản lượng (economies of scale) và tác dụng của đường cong kinh nghiệm (experience curve effects) với ý nghĩa, quy mô càng lớn, thì giá thành sản xuất càng giảm và càng sản xuất nhiều, kinh nghiệm nhiều, thì người lao động càng khéo và giảm chi phí sản xuất.

Trong khi đó, sẽ rất ít người dám dũng cảm, từ bỏ lợi thế trời cho đó, để theo đuổi chiến lược Khác biệt với ý nghĩa, tạo khác biệt cực mạnh và bán giá cao nhờ khác biệt đã được tạo ra. Liệu đó có thể là điểm yếu, là gót chân Asin của “người khổng lồ” Trung Quốc, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam len lỏi vào thị trường Trung Quốc?

Sẽ có người phản biện. Chẳng nhẽ người Trung Quốc không biết điều đó?
Không chỉ người khổng lồ, mà ai cũng có “gót chân asin”

Tất nhiên, họ biết. Song, biết là một chuyện, có dũng cảm cưỡng lại hay không lại là chuyện khác. Ngài David Ricardo (1772-1823), nhà kinh tế chính trị học cổ điển nổi tiếng người Anh, cha đẻ của thuyết Lợi thế so sánh (comparative avantage) đã có câu gợi ý: “Lợi thế so sánh” là cơ sở thúc đẩy tự do trao đổi thương mại giữa các quốc gia.

Nội dung cơ bản của thuyết có thể được giải thích thông qua một ví dụ đơn giản sau. Một nước A có thể sản xuất 2 mặt hàng a và b. Cả 2 mặt hàng đều mang lại lợi nhuận, nhưng sản xuất mặt hàng a mang lại lợi nhuận cao hơn mặt hàng b. Nước B cũng sản xuất mặt hàng b nhưng với chi phí cao hơn chi phí mà nước A bỏ ra đối với sản xuất mặt hàng b. Tuy nhiên, vì sản xuất mặt hàng a mang lại lợi nhuận cho nước A cao hơn là sản xuất mặt hàng b, cho nên, nước A sẵn sàng chỉ tập trung vào sản xuất mặt hàng a và nhập khẩu mặt hàng b từ nước B. Tổng kết lại, họ vẫn có lợi hơn là sản xuất cả hai mặt hàng a và b.

Chính vì vậy, mặc dù, Trung Quốc có thể sản xuất tất cả các mặt hàng, sản phẩm và đều có lợi hơn so với sản xuất tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo xu hướng, lợi thế so sánh, họ sẽ chỉ tập trung vào những mặt hàng sản xuất mang lại lợi nhuận cao hơn, chấp nhận nhập một số mặt hàng từ Việt Nam. Mặc dù, nếu họ tự sản xuất, giá vẫn có thể thấp hơn. Chính vì vậy, dù có giá thành cao hơn, một số mặt hàng, sản phẩm của Việt Nam vẫn có thể xuất sang Trung Quốc được.

Thực ra, ai cũng vậy, khi có một điểm cực mạnh, thì rất ít khi chúng ta từ bỏ điểm cực mạnh đó trong cạnh tranh. Đó cũng là cái bẫy chiến lược về giá thấp của một thị trường cực lớn như Trung Quốc.

Sẽ không nhiều người quan tâm đến chiến lược Khác biệt. Mà nếu có, và trong thực tế vẫn có những doanh nghiệp Trung Quốc theo đuổi chiến lược Khác biệt. Nhưng như vậy, vô hình chung, họ đã tự từ bỏ sở trường mạnh nhất của mình là giá rẻ. Và lúc đó, họ hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp Việt Nam trong cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và tính đặc sắc, khác biệt của sản phẩm.

Thị trường vĩ đại vừa là điểm cực mạnh, nhưng cũng chính là nguồn phát sinh gót chân Asin của Trung Quốc, là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam len lỏi trong cơ thể người khổng lồ này.

Việt Nam nên làm gì?

Như vậy, thay vì cạnh tranh giá rẻ với Trung Quốc, Việt Nam nên tập trung vào đoạn thị trường bậc trung, về chất lượng, thương hiệu và giá cao hơn sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc. Nói cách khác, Việt Nam nên cạnh tranh với các nhà sản xuất Trung Quốc bằng chiến lược Khác biệt.

Thực ra, dù có muốn, Việt Nam cũng không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu của một thị trường 1,3 tỷ dân. Giả sử, thành phần trung lưu Trung Quốc chiếm 20% dân số, thì thị trường mục tiêu đã là 260 triệu dân, gần bằng thị trường tổng thể của Mỹ với 310 triệu dân. Chắc chắn với sự phát triển mạnh mẽ vào bậc nhất thế giới, số lượng dân tầng lớp Trung lưu của Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng.

Chẳng hạn, nhìn vào số lượng người mua ôtô Trung Quốc hàng năm sẽ thấy, nhu cầu của thị trường này là khoảng 15,8 triệu xe (năm 2010)(1). Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành thị trường ôtô lớn nhất thế giới(2). Người mua ôtô chắc chắn không phải là người nghèo. Chỉ tập trung vào thị trường bậc trung đã là quá đủ và bao la đối với các nhà sản xuất Việt Nam.

Như vậy một thị trường lớn gần bằng Mỹ, đang phát triển, ngay bên cạnh chúng ta, sẽ cho ta lợi thế rất nhiều, khi không phải chi phí vận chuyển từ Việt Nam sang Mỹ, giá đến tay người tiêu dùng sẽ cạnh tranh hơn một cách đáng kể, điều kiện hàng qua biên giới vào Trung Quốc cũng dễ hơn vào Mỹ và châu Âu rất nhiều.

Ngoài ra, bằng những sản phẩm đặc sắc của mình, nông, hải thủy sản, rau quả, thủ công mỹ nghệ, may mặc, giầy dép bậc trung, chúng ta có thể hoàn toàn tự tin tìm ra đoạn thị trường mục tiêu phù hợp của mình trong 210 triệu người tiêu dùng bậc trung Trung Quốc.

Dùng chiến lược Khác biệt, nâng cấp các sản phẩm xuất khẩu Việt Nam, tránh cạnh tranh với các sản phẩm tương đương giá rẻ hiện có của Trung Quốc, sẽ là hướng đi hợp lý của chiến lược ngắn và trung hạn Việt Nam. Một điều cần lưu ý, là các nước gần Trung Quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông đều hầu như không có các sản phẩm tương tự như của Việt Nam, chúng ta hầu như không gặp bất kể sức ép cạnh tranh nào ngoài Trung Quốc cho chính thị trường Trung Quốc.

Về dài hạn, khi đã hiểu kỹ người tiêu dùng Trung Quốc thông qua quá trình kinh doanh ngắn và trung hạn, chúng ta có thể phát triển những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, mong muốn của đoạn thị trường mục tiêu đã chọn.

Nhà nước nên lập ra một ban chuyên về Chiến lược phát triển thị trường Trung Quốc. Ban này có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường Trung Quốc; hỗ trợ, xúc tiến các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc; đồng thời tổ chức kiểm tra, kiểm soát chất lượng, thương hiệu các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này.

Việt Nam nên cử các chuyên gia marketing, các đoàn nghiên cứu, tìm hiểu thị trường Trung Quốc. Trong vòng 1 năm, nếu thực sự chuyên tâm, chúng ta sẽ có các kết quả nghiên cứu tổng thể thị trường láng giềng. Từ đó, xây dựng các chiến lược marketing thâm nhập thị trường bậc trung Trung Quốc.

Một cách làm bài bản, đồng bộ, từ tốn, một chiến lược marketing khôn khéo (tham khảo chiến lược marketing của Hàn Quốc trong việc thâm nhập và phát triển thị trường) sẽ giúp chúng ta chinh phục thị trường bậc trung Trung Quốc. Bước đi ban đầu này là cực kỳ quan trọng, sai một ly, đi một dặm. Bằng ngân sách nhà nước, có thể tổ chức đấu thầu, thuê một vài nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường uy tín (Việt Nam và nước ngoài) tiến hành các chiến dịch nghiên cứu thị trường tại các địa bàn khác nhau của Trung Quốc.

Ngoài ra, trong 5 năm đầu, nhà nước nên hỗ trợ một mức % nào đó trên cơ sở doanh số xuất khẩu của các doanh nghiệp, dành cho chi phí nghiên cứu thị trường, hành vi tiêu dùng khách hàng Trung Quốc sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.

Đương nhiên, bên cạnh doanh số xuất khẩu, các doanh nghiệp này phải trình báo cáo nghiên cứu thị trường của mình tại thị trường Trung Quốc, để ban Chiến lược phát triển thị trường Trung Quốc tập hợp thành tài liệu chung, phổ biến cho các doanh nghiệp có ý định xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khác.

Mỗi thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thẩm Quyến..v.v… nên có các trung tâm xúc tiến thương mại của Việt Nam. Hàng tháng, nên có các báo cáo nghiên cứu thị trường Trung Quốc, phổ biến đến các doanh nghiệp. Tăng cường các hội thảo chuyên đề phân tích về thị trường này. Mua lại các kết quả phân tích về Trung Quốc của các nghiên cứu thị trường lớn, có uy tín.

Điều quan trọng nhất vẫn là ý chí vươn lên của người lãnh đạo, người dân và các doanh nghiệp Việt Nam. Có hay không gót chân Asin, thuyết “Lợi thế so sánh” của David Ricardo có tuyệt đối đúng và còn đúng với thời nay hay không? Những hạn chế của thuyết này vẫn còn giá trị hay không? Tất cả những câu hỏi đó, chỉ có thể được trả lời bằng đúng sự chủ động, phấn đấu vươn lên của chúng ta trong việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của những người tiêu dùng bậc trung Trung Quốc.
____________________

1. Nhật Minh (Theo Detroit News). “Thị trường Trung Quốc đáng để mạo hiểm” – Dân trí ngày 7/8/2010.
2. An Huy. Kinh tế thế giới phụ thuộc vào Trung Quốc tới mức nào? Theo VnEconomy ngày 1/11/2010.

(Nguồn: VEF)

Nợ Vinashin có thể chiếm 3% tổng dư nợ các ngân hàng Việt Nam

Theo Moody’s, hiện tổng giá trị các khoản vay dành cho các doanh nghiệp nhà nước có thể chiếm tới 40% dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Hãng xếp hạng tín dụng Moody’s cho rằng, “Vinashin đang đứng trước nguy cơ tái cơ cấu do nợ của Tập đoàn có thể chiếm tới 3% tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng Việt Nam”.
Vinashin được liệt vào con nợ lớn nhất của các ngân hàng thương mại quốc doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, các khoản nợ này vẫn là các khoản nợ hoạt động, chưa được ghi vào các khoản nợ xấu.

Bà Karolyn Seet, chuyên gia phân tích của Moody’s tại Singapore hôm 19/11 cho biết Vinashin có thể xin gia hạn thời gian thanh toán 60 triệu USD tiền gốc trong tổng số khoản vay 600 triệu USD.

Tính đến tháng 6/2010, tổng dư nợ của Vinashin đã lên tới 86 nghìn tỷ đồng (4,41 tỷ USD).

Theo số liệu thống kê của Bloomberg, 16,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu và các khoản vay của Vinashin sẽ đáo hạn vào năm 2017. Theo số liệu của Deutsche Bank Vietnam, lợi suất đối với 9% trái phiếu tiền đồng đáo hạn tháng 4/2017 tăng lên 21,16% vào ngày ngày 29/11, cao nhất trong vòng 1 năm.

Bà Karolyn nói: “Trường hợp của Vinashin cho thấy sự hỗ trợ của chính phủ đối với doanh nghiệp cũng như ngành ngân hàng là không đáng tin cậy. Quan trọng hơn, nó còn đặt ra câu hỏi về những rủi ro thua lỗ tín dụng của các doanh nghiệp nhà nước.”

Theo Moody’s, hiện tổng giá trị các khoản vay dành cho các doanh nghiệp nhà nước có thể chiếm tới 40% dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

P.V (Đầu tư Việt)

Oan sai… Vinashin?

Qua hai ngày chất vấn Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội, ngày 23 và 24-11, vấn đề Vinashin nóng bỏng trước đó đã kết thúc khá nhẹ nhõm. Niềm tin về sự hồi phục của ngành công nghiệp đóng tàu thủy lại được nhen nhóm.

Vinashin đã đóng và giao 26 tàu, trong đó đưa vào hoạt động 23 tàu, năm 2010 đạt doanh thu trên 1.400 tỷ đồng.

Các cuộc chiến sắp xảy ra…

Tác giả: Alan Phan

Trước mắt, nhìn chung sẽ không có sự thay đổi ghê gớm quy mô nào. Tuy nhiên, các nền kinh tế sẽ nghỉ ngơi và tận dụng thời gian để chỉnh sửa và sáng tạo. Quá trình này có thể mất 5-10 năm.

Sau nhiều năm gây sức ép buộc Trung Quốc phải tăng tỷ giá đồng nhân dân tệ, Chính phủ Mỹ quyết định bỏ cuộc và thay vào đó bằng chính sách tự mình hạ giá đồng USD. Giải pháp nới lỏng định lượng (QE2 – in tiền mua trái phiếu) trị giá 600 tỷ USD mới chỉ là bước đầu; các nước khác sẽ tiếp tục nối đuôi. Các nhà mua bán tiền tệ dự báo USD sẽ giảm ít nhất 12% giá trị từ nay đến tháng 6/2011.

Tuy nhiên, đừng nghĩ rằng Trung Quốc và các nền kinh tế dựa vào xuất khẩu khác sẽ vì để yên chuyện này. Các biện pháp đối phó hoặc trả đũa thẳng thừng sẽ được áp dụng và sự bắt đầu của một loạt các cuộc chiến thương mại và chiến tranh tiền tệ sẽ không còn xa.

Tổng thống Obama không có nhiều lựa chọn. Ông đang cố gắng bắt chước mô hình kinh doanh thành công của Trung Quốc, Nhật Bản và Đức bằng việc tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp Mỹ trên thị trường toàn cầu. Ông hy vọng xuất khẩu của Mỹ sẽ giúp giải quyết được phần nào vấn đề thất nghiệp; ông nghĩ rằng đồng tiền giảm giá sẽ giúp giảm thâm hụt cánh cân thương mại và ngân sách; cũng như sẽ giảm gánh nặng nợ ngoài của Mỹ.

Điều này có thể khả thi nếu ông thực hiện trong một phòng thí nghiệm, nhưng trên thực tế, sẽ có nhiều hành động và phản ứng, và sự phức tạp của chính trị và kinh tế ở từng nước cho thấy không ai có thể đoán trước kết quả.

(more…)

Quản lý các tập đoàn kinh tế nhà nước thế nào?

Công nhân đóng tàu trong nhà máy của Vinashin ở ĐBSCL. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ.

(TBKTSG) – Trong vòng năm năm, kể từ ngày đề án thí điểm tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên được Thủ tướng phê duyệt, Việt Nam đã nhanh chóng cho ra đời được 12 tập đoàn. Các doanh nghiệp này đang nắm lượng tài sản khổng lồ của quốc gia và đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện một số chính sách lớn về phát triển.

Do vậy, hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cả nền kinh tế nói chung. Thế mà mô hình tổ chức, cơ cấu quản lý và quản trị các tập đoàn lại đang là vấn đề lớn cần nghiên cứu hoàn thiện.

Việc tập đoàn Vinashin mất khả năng trả nợ và đứng bên bờ vực phá sản, buộc Chính phủ phải cơ cấu lại, là tiếng chuông cảnh báo về những bất cập trong tổ chức, quản lý hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước. (more…)

Nợ công của Việt Nam hiện nay không dưới 70% – Phương thức quản lý

Theo định nghĩa này, nợ công của Việt Nam hiện nay không dưới 70% GDP vì theo Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, riêng tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã lên tới 287.000 tỉ đồng (hay 20% GDP năm 2008), mà tổng dư nợ này lại tăng lên đáng kể trong năm 2009 do chính sách kích cầu của Chính phủ.

Vũ Thành Tự Anh (*)

Nguồn: Economist Intelligence Unit

Nợ công, một lần nữa, lại làm nóng nghị trường Quốc hội, trong đó ba vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là quy mô, tính an toàn, và tài trợ nợ công.

Về quy mô, Bộ Tài chính ước tính đến cuối năm 2010, nợ công của Việt Nam vào khoảng 56,7% GDP, tăng nhanh từ mức 52,6% GDP của năm 2009. Tuy nhiên, định nghĩa nợ công của Bộ Tài chính chỉ bao gồm nợ của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh chứ không bao gồm nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc Chính phủ, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước như định nghĩa của UNCTAD. Theo định nghĩa này, nợ công của Việt Nam hiện nay không dưới 70% GDP vì theo Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, riêng tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã lên tới 287.000 tỉ đồng (hay 20% GDP năm 2008), mà tổng dư nợ này lại tăng lên đáng kể trong năm 2009 do chính sách kích cầu của Chính phủ. Không những thế, thống kê nợ của doanh nghiệp nhà nước thường rất không đầy đủ, được minh chứng qua trường hợp của Vinashin với tổng dư nợ thực tế, theo một đại biểu Quốc hội, có thể lên tới 120.000 tỉ chứ không phải 86.000 tỉ như báo cáo của Chính phủ. (more…)

Thực nợ của Vinashin

Không phải tự dưng mà câu chuyện nợ nần của một tập đoàn kinh tế (Vinashin – VNS) lại khiến cử tri và đại biểu Quốc hội quan tâm như vậy, bởi nói như một đại biểu, với số nợ 120.000 tỉ đồng thì mỗi người Việt Nam (từ Thủ tướng đến kẻ ăn mày) đều phải gánh cỡ… 1,5 triệu đồng cho tập đoàn này!

Thế nhưng một dấu hỏi lớn “mới toe” không thể xem thường: Thực sự VNS nợ bao nhiêu?

Theo số liệu ban đầu đưa ra là 86.000 tỉ đồng nhưng “theo một nguồn đáng tin cậy” thì Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh của Quốc hội, ông Lê Quang Bình, lại tin rằng “phải lên tới 120.000 tỉ đồng” bởi sau khi vụ VNS lộ sáng, nhiều ngân hàng tập hợp số liệu và tổng nợ cộng dồn ra con số đó. Hơn thế, thay vì xác nhận thì người đứng đầu ngành kế hoạch – đầu tư, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc còn nhắc tới số liệu… 130.000 tỉ đồng!

Vậy con số nào đúng? (more…)

Vinashin phá sản theo kiểu Việt Nam

Trao đổi với báo chí sáng nay, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho rằng về mặt khoa học Nhà nước đã cho Vinashin phá sản, có chăng chỉ chưa tuyên bố chính thức.
> ‘Không cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về Vinashin’

Những rối ren tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đang là chủ đề sau khi Chính phủ gửi báo cáo chi tiết tới các đại biểu Quốc hội chiều qua.

- Với khoản nợ lên tới hơn 85.000 tỷ đồng và không có khả năng chi trả, theo ông, tại sao không để Vinashin tuyên bố phá sản?

- Đứng về mặt khoa học kinh tế thì Nhà nước đã cho Vinashin phá sản rồi, có điều không tuyên bố thôi. Việc chuyển đổi một số ngành nghề kinh doanh sang doanh nghiệp khác, cơ cấu lại, chuyển đổi mô hình quản lý, tính toán lại nợ… là những biểu hiện.

Vinashin đang được cho phá sản theo kiểu đặc thù của Việt Nam. Ảnh: K.L
Vinashin đang được cho phá sản theo kiểu đặc thù của Việt Nam. Ảnh: K.L

(more…)

Khẩn cấp: Bão Megi cấp 14 tiến vào Biển Đông

Bão Megi mạnh cấp 14 đang có khả năng tiến vào Biển Đông vào đầu tuần tới, theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương.
Đến chiều 16-10, bão Megi có vị trí tâm ở vào khoảng 18,3 độ bắc, 131 độ đông, cách đảo Luzon khoảng 900 km về phía đông. Bão đã mạnh lên cấp 13, cấp 14, giật cấp 15, cấp 16.

Ảnh chụp cơn bão Megi từ vệ tinh

Dự báo, trong 1-2 ngày tới, bão Megi tiếp tục di chuyển theo hướng giữa tây và tây tây bắc, mỗi giờ đi được khoảng 20 km và tiếp tục mạnh theo khoảng 1-2 cấp nữa. Nhiều khả năng trưa, chiều 18-10, bão Megi sẽ vượt qua Philippines vào Biển Đông.
Đây là cơn bão rất mạnh, phạm vi ảnh hưởng rộng, diễn biến phức tạp. Từ sáng sớm 18-10 ở phía đông khu vực giữa Biển Đông sẽ bắt đầu có gió bão mạnh cấp 8, cấp 9, sau tăng lên cấp 11, cấp 12, giật cấp 13, cấp 14, biển động dữ dội. Tàu thuyền không nên di chuyển tiến gần Philippines, các tàu hoạt động ở khu vực giữa và bắc Biển Đông cần theo dõi sát tin thời tiết biển để chủ động phòng tránh bão bắt đầu từ ngày thứ hai tuần tới.

K.H (Theo Vfej.vn)

(Nguồn: Công An TP.HCM)

Những chuyện bất ổn ở tập đoàn Bảo Việt

Nhìn vào các dự án này đều thấy có vấn đề: đây là những lĩnh vực mà tập đoàn Bảo Việt chưa có nhiều kinh nghiệm: du lịch, bất động sản, giải trí… cho thấy khả năng đánh giá, lựa chọn đối tác, dự án của tập đoàn này là có vấn đề.

Mạnh Quân

Không chỉ thể hiện cách thức quản trị nội bộ có vấn đề như việc mua trái phiếu không bảo đảm của Vinashin, gửi tiền quá hạn mức tự đề ra tại công ty Tài chính của Vinashin hàng trăm tỉ đồng (Sài Gòn Tiếp Thị đã đưa tin), tập đoàn tài chính – bảo hiểm Bảo Việt (gọi tắt là tập đoàn Bảo Việt) còn thể hiện nhiều yếu kém trong quản lý, đầu tư tài chính.

Những kết quả kiểm tra mới đây về các hoạt động đầu tư, kinh doanh của cơ quan chức năng tại tập đoàn này cho thấy rõ điều này.

Đầu tư tài chính: thua lỗ

Ngày 12.3.2008, tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt và Vinashin tổ chức lễ ký hợp đồng bảo hiểm rủi ro người đóng tàu cho lô đóng mới 9 tàu trọng tải 53.000 tấn của Vinashin. Ảnh: baoviet

Bảo Việt có nguồn vốn điều lệ lớn (trên 5.700 tỉ đồng), vốn huy động lớn… nhưng đáng tiếc trong mấy năm qua, nhiều phi vụ đầu tư tài chính của tập đoàn này không đạt hiệu quả. Nhiều khoản đầu tư tài chính của Bảo Việt mấy năm qua vào một số công ty, quỹ đầu tư đều không có kết quả tốt do các đơn vị này bị thua lỗ. Ví dụ, tính đến 31.12.2009, công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC) lỗ hơn 122 tỉ đồng, quỹ đầu tư chứng khoán Việt Long lỗ trên 112,8 tỉ đồng… Nguyên nhân chủ yếu do các đơn vị trên kinh doanh nhiều loại cổ phiếu năm 2008, 2009, khi thị trường chứng khoán suy giảm mạnh năm 2008, đến kỳ báo cáo tài chính phải trích lập dự phòng giảm giá dẫn đến lỗ hoặc sụt giảm giá trị đơn vị quỹ. (more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: