Phản biện xã hội

February 20, 2009

Quan sát cuộc sống chúng ta có thể thấy phản biện là một hoạt động diễn ra hàng ngày. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình. Trong khoa học, phản biện cũng là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học. Còn trong đời sống xã hội phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ. Phản biện xã hội là một vấn đề hoàn toàn không mới, loài người đã làm quen với khái niệm này từ rất sớm và biến nó trở thành công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ, tạo sự phát triển về chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến. Trong thời đại ngày nay, phản biện xã hội vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng, là đối tượng cần nghiên cứu, nhất là đối với các quốc gia đi sau, các quốc gia đang phấn đấu cho nền dân chủ. I. Phản biện xã hội là một hoạt động khoa học Phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó. Nếu không có phản biện có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không thèm đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó. Phản biện xã hội là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc trưng chuyên nghiệp nhất của cái gọi là đời sống dân chủ. Phản biện trong một xã hội dân chủ là môt loại “phản hành động” (“phản hành động” chứ không phải là “phản động”). Nó xuất hiện song song cùng với các hành động, nó xuất hiện đối lập với tất cả các hành động. Trong mỗi một xã hội bao giờ cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Các nhóm lợi ích bao giờ cũng có nhu cầu tiến hành hành động vì một mục tiêu nào đó. Nhưng trên mỗi khía cạnh hay mỗi lĩnh vực của đời sống con người bao giờ cũng có những cách lý giải khác nhau và do đó có những cách hành động khác nhau để đạt được mục tiêu như vậy. Phản biện tạo ra một giai đoạn đệm cho quá trình hành động tự nhiên của các nhóm lợi ích, đó là giai đoạn thảo luận và thỏa thuận. Phản biện làm cho các hành vi chính trị, kinh tế và xã hội trở nên ít chủ quan hơn, tức là sự xung đột của các nhóm lợi ích đã được điều chỉnh thông qua thảo luận và thoả thuận. Nói cách khác, phản biện làm cho những cuộc xung đột trên thực tế trở thành cuộc xung đột của thảo luận, tức là biến sự xung đột lợi ích trong hành động thành các xung đột lợi ích trong thảo luận. Nếu một xã hội không có phản biện và mỗi hành động đều được đương nhiên tiến hành thì đấy là cách thể hiện rõ rệt nhất tính chất phi dân chủ của xã hội. Bởi vì mỗi một hành động chính trị bao giờ cũng là kết quả thỏa thuận của các khuynh hướng chính trị, một hành động chính trị chỉ có thể được tiến hành khi nó là sự thúc bách của nhu cầu đời sống và để cân đối các nguyện vọng khác nhau của đời sống. Ví dụ trong đời sống hằng ngày của tôi chẳng hạn, nếu tôi luôn cố gắng tạo ra các không gian chính trị trong khuôn khổ tổ chức mình để các phản biện được thực hiện một cách tự nhiên thì chính các phản biện này sẽ làm cho các hành động của tôi trở nên có chất lượng khoa học và do đó kéo theo cả chất lượng chính trị của chúng, làm cho các hành động ấy trở nên đúng đắn. Chính vì vậy, để có một xã hội có chất lượng hành vi đúng đắn cần phải khẳng định tầm quan trọng của các hoạt động phản biện. Phản biện là một đòi hỏi khách quan của đời sống. Nói một cách khái quát, phản biện là một thể hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó mỗi con người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình. Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hoá, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn. Cho đến lúc này, ở nhiều nơi, trong một số hệ thống chính trị dường như vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về cái gọi là phản biện. Tất nhiên, trong bất cứ một hệ thống chính trị nào người ta cũng không thể bỏ qua nhân dân được, cho nên tất cả mọi chính sách trong khi xây dựng đều được hỏi ý kiến nhân dân. Nhưng hỏi ý kiến nhân dân là việc trưng cầu dân ý một cách không chuyên nghiệp và hoàn toàn không phải là phản biện. Phản biện là một hoạt động khoa học, phản biện là tranh luận một cách khoa học chứ không phải là hỏi xem anh có đồng ý với tôi hay không. So với trưng cầu dân ý, phản biện hoàn toàn khác về chất. Trưng cầu dân ý là hỏi dân. Phản biện không phải là hỏi dân. Phản biện không phải là nhân dân trả lời mà là nhân dân nói tiếng nói của mình. Và tiếng nói ấy được chuẩn bị một cách chuyên nghiệp bằng trí tuệ, bằng sự thông hiểu lẫn cả dự đoán về sự xung đột lợi ích khi tiến hành một hành động xã hội. Về bản chất chính trị, phản biện là một quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận. Nếu không xác lập quyền phản biện tức là quyền tự do ngôn luận mà trưng cầu dân ý thì chỉ có hai khả năng: gật và lắc. Nhưng cả gật và lắc đều diễn ra trong im lặng. Im lặng không phải là ngôn luận. Ngôn luận là bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học. Đấy là một hoạt động của xã hội dân sự, nhưng không phải là hoạt động nhân dân đơn giản mà là hoạt động thông qua một hệ thống tranh luận chuyên nghiệp. Nếu trưng cầu dân ý là đi tìm sự đồng thuận đơn giản thì phản biện là đi tìm sự đồng thuận có chất lượng khoa học. Đấy là sự khác nhau về chất lượng giữa phản biện và hỏi ý kiến nhân nhân. Để có được sự đúng đắn thì trong mọi quyết sách nhà nước phải đo sự đồng thuận của xã hội thông qua phản ứng của nhân dân. Để đo được tính đồng thuận xã hội cần phải xây dựng thiết chế cho nó trước. Không thể ngẫu hứng được. Nếu nhân dân chưa biết gì về dân chủ thì không thể trưng cầu ý kiến nhân dân về dân chủ. Trong một xã hội không dân chủ thì nhân dân không có trách nhiệm, mỗi một người không có trách nhiệm mà chúng ta lấy ý kiến của những người không có trách nhiệm thì ý kiến ấy cuối cùng phản ánh cái gì? Đấy chính là căn cứ để các nhà chính trị bỏ qua ý kiến của nhân dân. Sở dĩ không có sự đồng thuận trong các xã hội không phát triển là do người ta vẫn nhầm lẫn giữa phản biện và hỏi ý kiến nhân dân. Muốn có sự đồng thuận có chất lượng, chúng ta buộc phải xây dựng thiết chế phản biện. Các chính sách trước khi thực hiện không những cần phải được đo đạc rất cẩn thận, mà còn phải được xử lý về mặt số liệu một cách cẩn thận, từ đó chúng ta mới có được những chính sách phù hợp với đòi hỏi của cuộc sống. Sẽ rất mất thì giờ nếu chúng ta chỉ biểu diễn sự đồng thuận bằng các phương pháp trưng cầu dân ý một cách không chuyên nghiệp. II. Từ phản biện đến phản đối Như đã nói ở trên, phản biện là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận, cho nên, nếu không xây dựng nền văn hoá thảo luận thì không thể có nền văn hoá phản biện mà chỉ có nền văn hoá chống đối. Cần phải hiểu rằng phản biện không phải là chống đối. Khất lần phản biện tức là khuyến khích chống đối. Chống đối phát triển thêm một chút là thành phá phách, phát triển thêm chút nữa thành cách mạng. Tự do ngôn luận chính là năng lực đau và kêu đau. Đau và kêu đau là năng lực của cuộc sống để thể hiện tất cả các khuyết tật, các vấn đề bên trong của nó. Nếu không có những quyền như biểu tình và ngôn luận thì con người không có năng lực kêu đau. Biểu tình và ngôn luận là hai cấp độ khác nhau của năng lực kêu đau của đời sống xã hội đối với các chính sách. Biểu tình là phản ứng trực tiếp của người dân, ngôn luận không phải là phản ứng trực tiếp từ người dân mà chủ yếu là phản ứng của bộ phận chuyên nghiệp của xã hội, tức là có những bộ phận điều tra chuyên nghiệp về các cơn đau của xã hội đối với các tác động khác nhau của chính sách. Trong một xã hội phi dân chủ, con người không có các quyền như vậy, không có quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình, quyền lập hội… tức là quyền đề kháng những trạng thái thái quá hay những biểu hiện của trạng thái lộng hành của nhà nước đối với xã hội. Nhưng ngay cả khi nhà nước không ủng hộ, không khuyến khích, thậm chí chống lại, thì những phản ứng như vậy vẫn luôn tồn tại mà không hề biến mất. Trong trường hợp đó, bản năng kêu đau của cuộc sống vẫn tồn tại, nó tích tụ lại ở bên trong và đến một mức nào đó tạo thành những cơn bùng nổ được gọi là cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội không phải là cuộc cách mạng chính trị. Cách mạng chính trị là bề mặt của các cuộc cách mạng xã hội, là khía cạnh chuyên nghiệp, khía cạnh bị kích động và khía cạnh được tổ chức của cách mạng xã hội. Còn cách mạng xã hội là nỗi uất ức tồn tại bên trong lòng xã hội, sau khi được các nhà chính trị khai thác và tổ chức mới trở thành các cuộc cách mạng chính trị. Khi đã xuất hiện các cuộc cách mạng xã hội tức là xã hội đã đi quá giới hạn chịu đựng của nó. Xã hội có thể trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nếu hệ thống chính trị nào không ý thức được rằng chính sách nào thì sinh ra xã hội ấy. Xã hội có thể không vĩnh viễn trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nhưng những trạng thái của nó là hệ quả của hệ thống chính trị ấy. Ví dụ, có những xã hội mà trong suốt một thời kỳ rất dài im phăng phắc, không ai dám nói to tên các nhà lãnh đạo cả. Nếu cứ tiếp tục duy trì như thế thì có thể nói rằng tất cả các trạng thái sợ hãi ấy tạo ra một xã hội sợ hãi. Một xã hội sợ hãi là một xã hội sợ phát triển, sợ thay đổi, một xã hội yên phận thủ thường. Vấn đề đặt ra là chúng ta muốn gì? Với tư cách là các lực lượng xã hội, chúng ta muốn gì thì phải nói rõ, và nhà nước cũng phải tỏ rõ quan điểm là nhà nước muốn gì, tức là phải tạo ra quá trình đối thoại. Không có một xã hội đối thoại giữa các nhóm lợi ích khác nhau thì không thể có phản biện xã hội bởi vì xã hội không có thói quen thảo luận. Khi đó, năng lực phản biện đáng ra xã hội cần có để làm cho đúng đắn hơn các quyết định chính trị của nhà cầm quyền được thay thế bằng sự phản đối xã hội. Sự phản đối xã hội và sự phản biện xã hội là hai cách thể hiện những trạng thái chính trị khác nhau của xã hội đối với nhà nước. Phản biện là hoạt động thân thiện, là hoạt động có trách nhiệm, là sự kết hợp giữa trí tuệ xã hội với trí tuệ của hệ thống chính trị để tạo ra tính chính xác, tính đúng đắn của các quyết định chính trị. Còn phản đối là các phản ứng cực đoan ở những cấp độ khác nhau, cùng phát triển với sự sai lầm của các quyết định chính trị. Nếu không tổ chức phản biện xã hội một cách chuyên nghiệp, một cách đúng đắn và một cách thân thiện thì chắc chắn chúng ta sẽ hướng dẫn xã hội biến hoạt động phản biện trở thành hoạt động phản đối. Khi sự phản đối ấy được chuẩn bị một cách âm thầm cùng với tốc độ tăng trưởng của các sai lầm chính trị thì nó có thể trở thành sự chuẩn bị cho một cuộc cách mạng. Đó là tất yếu. Phản biện xã hội chính là biện pháp thay thế sự chống đối xã hội, hay nói cách khác, cần phải thay thế tự do cãi cọ bằng tự do ngôn luận. Ở nước Anh, trong công viên Hyde Park người ta dành riêng một khu cho những người muốn nói xấu Nữ hoàng và Thủ tuớng. Ở đấy người ta có thể nói thoải mái để xả hết cơn tức. Do sự bức xúc của đời sống nên con người có những nhu cầu như vậy. Sự va chạm tự nhiên của các nhóm lợi ích hay của các lợi ích tạo ra sự cãi cọ. Cần phải hướng dẫn những sự cãi cọ bản năng trở thành những cuộc thảo luận chuyên nghiệp mà biểu hiện cao nhất của nó là phản biện thì mới có thể có một xã hội ổn định và phát triển. III. Điều kiện để phản biện xã hội trở thành một hoạt động có chất lượng khoa học Muốn có phản biện xã hội thì trước hết xã hội phải có thói quen thảo luận, mà muốn tạo thói quen thảo luận cho xã hội thì nhất thiết phải trả lại cho xã hội cảm hứng nói, tức là trả lại cho xã hội quyền tự do ngôn luận để khích lệ xã hội tham gia vào những cuộc thảo luận hoặc tranh luận trên quy mô xã hội về tất cả các vấn đề. Khi xã hội được huấn luyện thông qua những cuộc thảo luận như vậy thì xã hội mới có đủ năng lực để phản biện những vấn đề hệ trọng khác, vì khi nói đến phản biện xã hội tức là phản biện những vấn đề hệ trọng của đời sống chính trị. Cho nên, điều kiện thứ nhất là cần phải thực thi tự do ngôn luận. Phản biện là biểu hiện chuyên nghiệp của việc người ta thực thi quyền tự do ngôn luận nên phải khẳng định quyền tự do nói trước. Tự do ngôn luận là quyền đầu ra của mọi ý kiến phản biện. Nếu không có tự do ngôn luận thì không có cách gì để phản biện. Không có quyền nói thì anh cứ nghĩ mãi và anh có nghĩ kiểu gì, nghĩ hay đến mấy mà không nói được thì cũng vô ích vì anh không có cách gì để thể hiện được ý nghĩ ấy. Nếu hạn chế quyền tự do phổ biến các quan điểm thì có nghĩa là dành toàn bộ các quyền tự do cho một loại quan điểm và nếu xã hội chỉ được hướng dẫn bằng một loại quan điểm thì vô cùng nguy hiểm vì nó tất yếu sẽ dẫn đến sự đơn điệu và lệch lạc của đời sống. Cho nên, tự do ngôn luận chính là một trong những chìa khoá cực kỳ quan trọng để làm cân bằng tất cả các khuynh hướng, để mỗi một điểm trong đời sống xã hội nhận được nhiều thông tin khác nhau giúp cho các thành viên trong xã hội có năng lực lựa chọn. Bản chất của tự do là quyền được lựa chọn và sự phong phú để lựa chọn. Muốn có sự phong phú để lựa chọn thì con người phải có quyền phổ biến quan điểm, tức là quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là tiền đề, là điều kiện cơ bản để con người thực thi các quyền tự do lựa chọn. Thứ hai, phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận cho nên nó cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách chuyên nghiệp. Trước khi nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức và nói chuyên nghiệp là giới báo chí. Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi một hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện xã hội. Vấn đề của những nước chậm phát triển là cần phải xây dựng một đội ngũ trí thức. Tại sao lại đặt ra vấn đề này? Bởi vì với chất lượng con người ở những nước này thì chưa thể có đội ngũ trí thức tiên tiến được. Đội ngũ trí thức ở đó mới đạt đến trạng thái hơn nhân dân và họ tự hào là mình hơn nhân dân. Đó là nỗi đau khổ lớn nhất và là chỉ tiêu tập trung nhất để mô tả tình trạng chậm phát triển của xã hội. Khi nào giới trí thức nhận thức được rằng trí thức là tội đồ của nhân dân, có sứ mệnh nghĩ hộ nhân dân, nghĩ trước nhân dân và biết biến nhân dân trở thành đồng minh của sự suy nghĩ của mình thì đấy là dấu hiệu bắt đầu của sự phát triển. Vở kịch “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” của Nguyễn Đình Thi cách đây gần ba chục năm đã nói điều này, đó là người trí thức phải nói hộ nhân dân. Tuy nhiên, người trí thức nói hộ nhân dân thì vẫn chưa đủ để tạo ra sự đồng thuận xã hội. Người trí thức không chỉ nói hộ nhân dân mà quan trọng hơn là phải hướng dẫn nhân dân để tạo cho nhân dân thói quen nói lên tiếng nói của chính mình. Khi người trí thức yêu nhân dân của mình thì thành đạt bao nhiêu cũng không đủ, cũng không làm cho người ta thoả mãn bởi lý tưởng của tri thức nằm trong nỗi khổ, trong sự suy nghĩ của nhân dân chứ không phải nằm trong sự thành đạt của cá nhân. Những trí thức Pháp ở thời kỳ Khai sáng chính là những ví dụ về tầng lớp trí thức coi mình là tội đồ của nhân dân. Nhà nước Pháp truy bắt Diderot, truy bắt Montesquieu, truy bắt Voltaire. Voltaire phải trốn lên biên giới trong các nhà thờ lớn của nước Pháp, ở đấy ông ta viết những tác phẩm về tự do. Montesquieu và Diderot cũng thế. Cho nên, xã hội muốn phát triển thì việc đầu tiên là phải phát triển đội ngũ trung lưu của xã hội mà ở những nước chậm phát triển thì tầng lớp trung lưu của xã hội là những người trí thức, chứ không phải là những kẻ buôn bán lắm tiền. Bộ phận nói chuyên nghiệp là giới báo chí ở những quốc gia chậm phát triển cũng có những vấn đề của nó. Do sự bức xúc của đời sống nên giới báo chí thường có xu hướng cứ đòi hỏi, cứ làm to tất cả những thứ thực ra rất khiêm tốn, rất gần gũi với đời sống con người. Đấy chính là một trong những nhược điểm của giới báo chí. Tôi cho rằng chúng ta không nên đao to búa lớn, không nên gạch chân dưới những đòi hỏi của mình. Chẳng hạn, trong một chế độ chính trị chịu sự chi phối của quá khứ mà đòi hỏi các nhà chính trị phải thay đổi hay phải cắt bỏ ngay những bộ phận đã được mã hoá bởi quá khứ ra khỏi cơ thể chính trị thì đó là đòi hỏi khó chấp nhận. Nhưng nếu chúng ta đưa ra những đòi hỏi về xã hội dân sự thì đấy lại là quyền rất chính đáng. Chúng ta hãy đòi hỏi một cách từ tốn tất cả những gì cần cho đời sống con người. Hãy chia nhỏ tất cả những đòi hỏi lớn. Chúng ta xây dựng nền dân chủ bằng việc xây dựng các quyền nhỏ nhoi liên quan đến thân phận con người trước. Và chúng ta thấy rằng tất cả những thứ nhỏ nhoi khiêm nhường ấy không chỉ chúng ta cần, mà con cái những nhà chính trị cầm quyền cũng cần. Họ thấy sự gần gũi của những đòi hỏi của chúng ta so với những đòi hỏi của con cái họ và họ không thấy nguy cơ chính trị nào trong những đòi hỏi ấy cả, hay nói cách khác, chúng ta sẽ có được sự cảm thông chính trị rất con người giữa chúng ta và họ, đấy chính là mục tiêu và là phương thức tối ưu của hoạt động báo chí. Có nhiều người cho rằng chức năng thức tỉnh cảm hứng xã hội cũng như thức tỉnh nhận thức xã hội là của báo chí, nhưng báo chí lại không có đủ quyền tự do thì làm thế nào để xã hội có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn ấy được. Xét về mặt định tính thì có vẻ như ý kiến ấy là đúng, nhưng trên thực tế thì không đúng. Anh có tự do đến đâu thì anh hãy tận dụng cho hết cái không gian ấy đi. Nói to quá trong một căn phòng bé thì chỉ làm váng tai người nghe, cho nên, hãy nói những điều vừa phải trong một không gian thích hợp, hãy khích lệ mọi người và dần dần họ sẽ đòi một không gian lớn hơn. Các không gian tự nó nở ra cùng với thời gian, cùng với trí tuệ của con người chứ không phải nở ra bằng sự nói to của bất kỳ ai. Chúng ta có nói to mấy cũng không làm thủng được bức tường chính trị, nhưng nếu người dân đòi hỏi thì bức tường ấy sẽ tự giãn. Cho nên phải kiên nhẫn. Nếu chúng ta xem chính trị là một cuộc đấu tranh thì chúng ta hiểu sai toàn bộ giá trị của đời sống chính trị. Chính trị không phải là đối lập, không phải là đối kháng, không phải là đấu tranh, chính trị là quá trình xã hội thuyết phục lẫn nhau về sự hợp lý cho sự phát triển. Và phản biện xã hội chính là một trong những cách thức để thực hiện quá trình ấy. Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể tiếp tục xem động lực phát triển của xã hội là đấu tranh giai cấp mà phải xem sự phát triển dân trí là động lực của sự phát triển. Trước khi làm cho dân chúng trở thành những người có chất lượng chính trị tốt thì phải giúp họ trở thành người tốt đã. Bởi vì những người muốn làm người tốt có số lượng lớn hơn rất nhiều so với những người muốn tham gia tốt vào đời sống chính trị. Chúng ta hãy góp phần làm cho con người trở thành người hơn đã. Trên nền tảng ấy, con người mới có điều kiện để nhận thức về sự phải chăng của đời sống chính trị. Chính trị phải được phán xét bởi chất lượng con người, chứ không chỉ bởi chất lượng của nhà chính trị. Chúng ta có một nghìn nhà chính trị tốt nhưng chúng ta có một triệu người dân tồi thì xã hội cũng không thể tốt lên được. Nhưng chúng ta có một triệu người dân tốt mà chúng ta chỉ có 10 nhà chính trị tốt và có 90 nhà chính trị tồi, thì xã hội vẫn tốt lên. Cách mạng tháng Tám là một ví dụ về một xã hội như thế. Các nhà chính trị dựa vào chất lượng tử tế của xã hội Việt Nam thời đó đã tạo ra được cuộc cách mạng tháng Tám. Cho nên, để hướng dẫn người dân làm chính trị tốt, trước hết cần phải hướng dẫn họ làm người tốt. Đấy là lời khuyên của tôi với tư cách là một phản biện xã hội đối với báo chí. Báo chí cần phải góp những tiếng nói có hệ thống để xã hội thức tỉnh về câu chuyện tổ chức và rèn luyện nền dân chủ một cách từ tốn, một cách yên tĩnh để khi con người già rồi, ngẩng đầu lên, thấy trên đầu mình có nền dân chủ.

IV. Thiết chế phản biện xã hội

Xã hội dân sự với vai trò phản biện và vai trò trọng tài

Xã hội dân sự là một xã hội tự cân bằng. Chính sự tự cân bằng của xã hội đã tạo ra nhà nước và đặc biệt là tạo ra chức năng và nội dung của hoạt động nhà nước. Ở mỗi một thời đại, mỗi một thể chế chính trị hoặc mỗi một trình độ phát triển, nội dung của xã hội dân sự khác nhau. Gần đây, khi nói đến xã hội dân sự người ta vẫn nói đến các tổ chức độc lập với nhà nước, tức là các tổ chức phi chính phủ. Tôi có phát biểu tại Singapore trong một cuộc hội thảo rằng tôi không đồng ý với cách định nghĩa này, vì các tổ chức phi chính phủ chỉ là một biểu hiện của xã hội dân sự chứ không phải là toàn bộ xã hội dân sự. Nó là biểu hiện ở một trạng thái phát triển nào đó, ở một số quốc gia nào đó của xã hội dân sự chứ không phải là xã hội dân sự.

Xã hội dân sự là xã hội phi nhà nước. Xã hội dân sự tồn tại song song với nhà nước. Nó có các quy tắc văn hóa để hạn chế tất cả sự cực đoan, tất cả những hành vi không phù hợp với lợi ích công cộng. Trong đời sống dân sự hàng ngày con người ít cần đến nhà nước, con người có những tổ chức phi chính phủ để thể hiện những loại hình ý chí khác nhau của cộng đồng, họ thương thảo với nhau và tạo ra sự đồng thuận xã hội. Người Á Đông chúng ta không quen với xã hội dân sự cho nên định nghĩa về xã hội dân sự của chúng ta hiện nay vẫn không đúng. Xã hội dân sự mà chúng ta định nghĩa vẫn là cái gì đó có tính chất tôn trọng nhân dân nhưng lại không tôn trọng quyền tự cân bằng của xã hội. Ở một số quốc gia, nhà nước là tất cả, luôn luôn tồn tại nhà nước để giải quyết một loạt các vấn đề mà nhà nước cho rằng xã hội dân sự không làm được. Việc pháp luật không thừa nhận tình trạng không có nhà nước trong một loạt các khu vực khác nhau của đời sống làm cho nó mất đi những điều kiện tồn tại của xã hội dân sự.

Cần phải nhấn mạnh rằng, bản chất của xã hội dân sự là tính tự lập của xã hội, tức là xã hội phải giải quyết các vấn đề của nó. Nhà nước là một bộ phận của xã hội nhằm giải quyết những vấn đề có chất lượng chiến lược của đời sống chứ không phải là người giải quyết tất cả các vấn đề của đời sống. Xã hội dân sự là một xã hội tự quản lấy mình và đến một mức độ mà nó không có khả năng để tự quản nữa thì phần còn lại đó rơi vào nhà nước chuyên nghiệp. Hay nói cách khác, nhà nước chuyên nghiệp là bộ phận nối dài của xã hội dân sự để giải quyết những công việc mà bản thân xã hội không tự giải quyết được.

Sẽ không thể có hoạt động phản biện xã hội nếu xã hội dân sự không được tôn trọng hoặc không có được địa vị hợp pháp của nó. Bởi thứ nhất, phản biện là một quyền tự nhiên, là tiếng nói của xã hội dân sự, xã hội không có địa vị hợp pháp thì có nghĩa là quyền ấy cũng không hợp pháp. Vậy làm thế nào để xã hội thực hiện quyền phản biện? Thứ hai, xã hội cũng chính là trọng tài của các cuộc phản biện, hay nói đúng hơn là trọng tài giữa các khuynh hướng khác nhau tranh luận với nhau thông qua phản biện, Sự đánh giá đúng sai được thể hiện bằng sự hoan hô của xã hội đối với từng loại ý kiến, đối với từng mức độ chất lượng của ý kiến. Nếu xã hội không được tôn trọng, xã hội không có địa vị hợp pháp thì liệu xã hội có thể tự do thể hiện sự hoan hô của mình đối với những ý kiến có chất lượng không? Và khi đó phản biện xã hội liệu có còn tác dụng? Cho nên, vấn đề ở đây là chúng ta cần phải xác định rõ vai trò và địa vị của xã hội dân sự để có được quan niệm đúng đắn về xã hội dân sự, dựa vào đó mà thức tỉnh xã hội về những quyền hợp pháp của mình, đồng thời thức tỉnh nhà nước về việc tôn trọng địa vị hợp pháp của xã hội dân sự.

Nhà nước với chức năng quản lý hoạt động phản biện

Như đã nói ở trên, phản biện là một đặc trưng của nền dân chủ. Chỉ có những nhà nước mạnh mẽ thì mới thừa nhận một cách công khai và rõ ràng các quyền tham gia vào đời sống chính trị của người dân. Nếu quyền tham gia vào đời sống chính trị của người dân không được khẳng định một cách tự nhiên thì đó là biểu hiện của sự bất lực hoặc sự ép của nhà nước. Tuy nhiên, khi nhà nước thừa nhận cái quyền ấy mà xã hội vẫn không tham gia thì nó thể hiện tính chậm phát triển về chính trị của xã hội. Trong tình trạng như vậy nếu nói là nhà nước không cho thì không đúng vì nó không khoa học. Trong mọi trường hợp, chúng ta đều phải phân tích một cách khoa học. Quyền tham gia một cách tự nhiên vào đời sống chính trị phải được kiểm soát một cách an toàn bởi nhà nước, bởi vì nhà nước mà không kiểm soát sự an toàn chính trị trong quá trình các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình ấy thì nhà nước không hoàn thành chức năng của nó là bảo vệ sự yên ổn của xã hội. Nhưng nếu nhà nước làm quá lên thì nhà nước tiêu diệt năng lực sống của xã hội hay hạn chế các quyền sống tự nhiên của xã hội. Cái sai ở đây là nhà nước nhận thức sai về vùng ảnh hưởng của mình đối với sự phát triển. Anh tưởng là người dân tham gia vào các tiến trình chính trị thì đất nước sẽ không ổn định thì đó là nghĩ sai. Bắt đầu từ nghĩ sai cho nên dẫn đến làm sai. Nên hiểu rằng nếu nhân dân tham gia một cách tích cực trong khuôn khổ điều chỉnh của pháp luật vào các tiến trình chính trị thì đấy chính là mở rộng động lực phát triển của xã hội. Khi chúng ta đi khám bệnh mà không định hướng được căn bệnh thì chúng ta sẽ phạm sai lầm. Để hoàn tất các chức năng chính trị đảm bảo yên ổn xã hội, một số nhà nước đã làm quá nên làm cản trở tiến trình phát triển, cho nên, nhiệm vụ của nhà nước là phải xác định được ranh giới hợp lý của quản lý. Đo đếm cái ranh giới hợp lý giữa tự do và quản lý là toàn bộ trí tuệ của nhà cầm quyền.

Gần đây, trong xã hội chúng ta cũng xuất hiện nhiều tranh luận về vấn đề phản biện xã hội. Về phía nhà nước cũng có những chính sách vĩ mô khuyến khích phản biện xã hội, cụ thể là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được giao thực hiện phản biện xã hội. Đấy là những dấu hiệu tích cực. Tuy nhiên có một vấn đề nên xem xét đó là liệu có nên giao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện một hoạt động vốn dĩ là quyền tự nhiên của xã hội? Như đã phân tích, phản biện xã hội là hoạt động tự nhiên của xã hội, nó thể hiện quyền tự nhiên của xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không đủ cơ sở pháp lý cũng như khoa học để có thể thực hiện chức năng phản biện. Nó có thể lãnh đạo hoạt động phản biện nhưng nó không phải là tổ chức phản biện. Phản biện là xã hội nói tiếng nói của mình để những người đưa ra các chính sách buộc phải uốn nắn lại chính sách của mình, buộc phải cân bằng lại khuynh hướng của mình cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không phải là một tổ chức làm được việc ấy và cũng không nên làm việc ấy. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức tập hợp các lực lượng quần chúng của xã hội Việt Nam, có nghĩa là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức nối dài của nhà nước trong đời sống quần chúng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bắt sâu rễ trong đời sống xã hội, do đó, nó có điều kiện để nắm bắt nguyện vọng và tổ chức cho các nguyện vọng khác nhau có tiếng nói. Cho nên, nếu nói rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hỗ trợ nhà nước trong việc tổ chức và lãnh đạo hoạt động phản biện thì mới nhất quán với hệ thống chính trị hiện nay chúng ta đang thừa nhận.

V. Đi tìm giải pháp cho giải pháp

Tìm kiếm sự phát triển trong thời đại ngày nay đã trở thành động cơ của tất cả các nghiên cứu khoa học. Chúng ta đi tìm các giải pháp khoa học để góp ý với giới cầm quyền trong việc tìm kiếm sự phát triển, nhưng để cho giải pháp mà chúng ta nghiên cứu trở thành giải pháp trong thực tế thì phải có giải pháp của giải pháp. Giải pháp của giải pháp là các quyền tự do. Nghiên cứu phản biện xã hội chính là nghiên cứu về quyền tự do ngôn luận, một trong những quyền tự do cơ bản. Không có quyền này thì các quyền tự do khác khó có thể trở thành hiện thực. Bởi vì như đã phân tích, ngôn luận chính là quyền tự do lựa chọn và bày tỏ về sự lựa chọn của xã hội, nếu xã hội không có quyền lựa chọn thì xã hội sẽ không có tự do. Do đó, trong quá trình tổ chức và rèn luyện nền dân chủ phản biện xã hội cần phải được biến thành một quyền phổ biến. Như đã phân tích ở những phần trên, xã hội phải có khả năng nói tiếng nói của mình nhưng nhà nước với chức năng chủ yếu của nó là đảm bảo an ninh xã hội vẫn cần có những hoạt động quản lý. Cho nên, vấn đề cần nghiên cứu là làm thế nào để hoạt động quản lý của nhà nước không lấn át xã hội đến mức tạo ra nguy cơ đẩy xã hội vào tình trạng bất hợp pháp hoặc mất năng lực phản biện. Tôi cho rằng để giải quyết được vấn đề này, chúng ta phải nhận thức một cách rõ ràng về vai trò của xã hội dân sự và mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của xã hội dân sự và qui mô của nhà nước.

Đã từ lâu, tất cả chúng ta quá quen thuộc với quan điểm nhà nước là một hiện tượng lịch sử có đầu và có cuối, có nghĩa là nhà nước sẽ biến mất khi không còn giai cấp, đến mức chúng ta tin chắc rằng đó là quy luật bất di bất dịch. Đấy chính là một trong những bế tắc trong lý luận về nhà nước. Theo quan điểm của tôi, nhà nước tồn tại vĩnh viễn bởi vì xã hội tồn tại vĩnh viễn. Xã hội dân sự tồn tại vĩnh viễn, sự nối dài, sự chuyên nghiệp hoá trong việc điều hành xã hội là vai trò của nhà nước, do nhà nước thực hiện và nó tồn tại vĩnh viễn. Nhà nước không biến mất cùng bất kỳ cái gì cả trừ khi biến mất loài người. Tôi cũng không nghĩ rằng có một quy luật là xã hội càng phát triển thì vai trò của nhà nước càng thu hẹp lại. Bởi vì cuộc sống có nhiều pha, trong đó có thể sắp xếp thành hai pha cơ bản là bình thường và khủng hoảng. Trong sự phát triển bình thường, nhà nước quả thật có thể thu hẹp chức năng lại. Nhưng trong những giai đoạn khủng hoảng của đời sống phát triển, nhà nước sẽ có những chức năng mở rộng ra. Ví dụ, ở Mỹ chúng ta thấy rằng nhà nước dưới thời của Tổng thống Bill Clinton là một nhà nước thông thường. Các quyền tự do thông thường của người dân được đảm bảo và được tôn trọng một cách đầy đủ. Nhưng khi đến thời Tổng thổng Bush, sau sự kiện 11/9 thì xã hội khủng hoảng, do đó, chính phủ Mỹ buộc phải thay đổi và nó lấn át một số quyền đương nhiên của xã hội dân sự. Vì thế, tổng thống có quyền nghe lén điện thoại không phải để phục vụ những mục tiêu riêng của tổng thống mà phục vụ chức năng quản lý xã hội trong thời chiến. Cho nên, không phải là càng ngày nhà nước càng thu hẹp mà các yêu cầu của xã hội dân sự đối với vai trò của nhà nước trong mỗi một pha khác nhau của đời sống phát triển là rất khác nhau. Vì thế, không có quy luật xã hội càng phát triển thì nhà nước càng thu hẹp vai trò. Xã hội càng phát triển thì càng dễ có những sự bùng nổ, những sự bùng nổ của đời sống phát triển tạo ra những đòi hỏi mới, những đòi hỏi có thể là thu hẹp, có thể là mở rộng nhà nước. Nói cách khác, quy mô của nhà nước cũng như những chức năng của nó phát triển nhịp nhàng với sự đòi hỏi về vai trò của nhà nước của đời sống. Ở đây không có sự mâu thuẫn, vai trò của nhà nước đến đâu là do đòi hỏi điều hành của xã hội chứ không phải là nhà nước đòi hỏi xã hội phải mở rộng hoặc thu hẹp vai trò của mình. Nhà nước là một hệ thống chính trị mang chất lượng bị động đối với sự phát triển.

Theo một kết quả khảo sát thì hiện nay ở các nước phát triển, mỗi năm chính phủ giải quyết khoảng từ 350 – 450 đầu việc. Một số nước đang phát triển như Trung Quốc thì một năm chính phủ giải quyết khoảng 1200 đầu việc, ở Việt nam là khoảng 6000 – 6500 đầu việc. Nhìn nhận một cách đơn giản thì có vẻ như những kết quả nghiên cứu như vậy phản ánh rằng trình độ của xã hội càng cao thì nhà nước càng ít việc đi, nhưng nhà nước chỉ ít những việc thông thường chứ không hề ít việc trong việc tìm kiếm con đường phát triển của xã hội. Nghiên cứu vai trò của nhà nước thông qua đầu việc chỉ là một loại nghiên cứu về trạng thái phát triển của xã hội chứ không thể là nghiên cứu về trạng thái phát triển của nhà nước. Trạng thái phát triển của nhà nước là nó đảm bảo khả năng hướng dẫn sự phát triển xã hội của nó chứ không phải là nó làm thay xã hội những công việc hằng ngày. Kết luận rằng xã hội càng phát triển, nhà nước càng ít việc thì tôi không đồng ý. Tôi cho rằng xã hội càng phát triển thì vai trò của nhà nước càng lớn bởi vì nhà nước không còn là một bộ máy để làm những việc thông thường mà nhà nước trở thành bộ não chỉ đạo sự phát triển xã hội. Đấy chính là mục tiêu mà các nhà nước cần hướng tới.

Để đi đến mục tiêu ấy, trước hết cần phải tạo ra một tiền đề cho nó, đó chính là đưa xã hội ra khỏi tình trạng lạc hậu phổ biến của nó. Chúng ta không thể khăng khăng đổ hoàn toàn lỗi cho nhà nước rằng xã hội lạc hậu vì nhà nước tồi được, bởi vì nhà nước sản sinh ra từ chính xã hội. Ở những xã hội lạc hậu, con người không có khả năng phản biện, thậm chí cũng không có năng lực phản đối và họ thay thế sự phản đối bằng sự bất mãn yếm thế. Sự bất mãn yếm thế tạo ra trạng thái lãn công chính trị, sự lãn công chính trị dần dần tạo ra sự lười biếng chính trị, sự lười biếng chính trị là nguồn gốc của tất cả mọi sự chậm phát triển. Khi xã hội không tham gia vào các quá trình chính trị thì có hai nguyên nhân: thứ nhất là nó không đủ năng lực và trí tuệ để tham gia vào các khuynh hướng chính trị và thứ hai là nó không có quyền tham gia. Nhưng như đã nói ở trên, trong trường hợp nguyên nhân thứ hai đã được loại trừ mà xã hội vẫn không tham gia thì nó thể hiện tính chậm phát triển về chính trị của xã hội. Chính vì vậy chúng ta cần phải thức tỉnh về một thực tế là tư duy cần cho một xã hội chậm phát triển bây giờ là tư duy vượt lên trên trạng thái lạc hậu.

Trong khi nghiên cứu về Tự do, tôi thấy rằng các xã hội phương Đông không phát triển bằng phương Tây vì phương Đông thiếu tự do. Người Trung Quốc chẳng kém gì người Tây, nền văn minh Trung Hoa có trước nền văn minh châu Âu, nhưng vì không có tự do cho nên họ không ra khỏi trạng thái lạc hậu của chính mình được. Anh nghĩ về những điều cá nhân anh tâm đắc mà không biết rằng sự nghĩ của riêng anh không tạo ra sự phát triển được vì nó không tạo ra cảm hứng xã hội. Đến bây giờ, người viết về trăng hay nhất của nước Trung Hoa chỉ có hai nhà thơ là Lý Bạch và Đỗ Phủ. Một tỉ ba người dân Trung Hoa không làm thơ về trăng hay được như họ, vì con người không thể có cảm hứng trong khi người ta đang nghĩ về miếng bánh. Trong bộ phim “Phải sống” của đạo diễn Trương Nghệ Mưu, ông bác sĩ, nạn nhân của cách mạng văn hoá, mà gia đình ông Phú Quý đón về để cứu con gái mình đã chết vì ăn liền một lúc bảy cái bánh bao. Trong khi người ta mải nghĩ về cái bánh bao thì trăng chẳng có nghĩa gì cả. Cho nên, cần phải trả lại cho đời sống Tự do và làm cho con người thức tỉnh một cách tập thể về giá trị của Tự do. Và những nhà lãnh đạo mọi nước trên thế giới cần phải hiểu rằng Tự do là nguồn gốc của sự sống, nguồn gốc của việc hình thành các giá trị con người, nguồn gốc của phát triển. Không có tự do thì không có giải pháp nào, không có trí khôn nào có thể đưa một đất nước ra khỏi tình trạng chậm phát triển được.

  • Nguyễn Trần Bạt

Những sự kiện quốc tế nóng bỏng nhất năm 2008

December 24, 2008

Chỉ còn chưa đến 10 ngày nữa là năm 2008 sẽ khép lại. Trong năm qua, thế giới đã chứng kiến không ít những biến động và đổi thay lớn như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cơn ác mộng sữa nhiễm melamine hay lần đầu tiên có một tổng thống da màu ở cường quốc số 1 thế giới… Nhìn chung, trong bức tranh toàn cảnh thế giới năm 2008, chúng ta có thể thấy gam màu tối là nét chủ đạo, bao phủ gần như toàn bộ bức tranh.Hải Yến

Theo thông lệ hàng năm, VnMedia đưa ra một số sự kiện thế giới được xem là đáng chú ý nhất trong năm 2008 để bạn đọc tham khảo và bình chọn ra 10 sự kiện nóng bỏng nhất. Chúng tôi mong nhận được những bình chọn riêng kèm theo những phân tích, đánh giá của các bạn. Những bình chọn xuất sắc của độc giả sẽ được chọn đăng trên báo VnMedia.

1, Khủng hoảng tài chính toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ âm ỉ từ năm 2007 đã chính thức bùng phát trong năm 2008 bằng một loạt vụ phá sản tài chính làm rung chuyển nền kinh tế thế giới. Chấn động nhất là vụ phá sản bất ngờ của Tập đoàn đầu tư Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư hàng đầu trên thế giới với 158 năm lịch sử và trên 26000 nhân viên.

Ảnh minh họa

Phản ứng của các nhà đầu tư sau khi nghe tin Lehman Brothers phá sản.

Trước đó, một loạt các đại gia khác của nền kinh tế Mỹ như Countrywide Financial, Bear Stearns, IndyMac, Fannie Mae, Freddie Mac, AIG…. hoặc tuyên bố phá sản hoặc ngấp nghé trên bờ vực của sự phá sản.

Cuộc khủng hoảng tài chính hết sức trầm trọng của Mỹ đã bắt đầu lây lan ra khắp toàn cầu. Nền kinh tế thế giới bị thiệt hại hơn 30.000 tỷ USD, trong đó Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản và Mỹ là những nước phải hứng chịu nhiều nhất. Theo các chuyên gia, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay là tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy Thoái kinh tế vào những năm 1930 của thế kỉ trước. Trước tình hình trên, chính phủ các nước phải ra tay can thiệp khẩn cấp bằng một loạt các biện pháp, trong đó có kế hoạch giải cứu được xem là lớn nhất trong lịch sử và biện pháp cắt giảm lãi suất mạnh. Tuy vậy, theo dự đoán của nhiều chuyên gia và các nhà lãnh đạo thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ còn kéo dài sang cả năm sau và chỉ được dập tắt vào khoảng giữa năm 2010.

2, Điều kỳ diệu mang tên Obama

Đêm 4/11/2008 có lẽ là ngày không thể nào quên đối với ông Barack Obama, với người dân Mỹ và cả người dân thế giới khi ông này đắc cử trở thành tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ. Chiến thắng của Obama đã mở ra một trang sử mới cho nước Mỹ khi nó đã phá vỡ mọi rào cản về chủng tộc vốn đã tồn tại từ rất lâu ở nước Mỹ. Lịch sử sẽ nhớ đến Obama vì sự thay đổi mà ông đã mang lại cho thế giới. Chính vì thế, không chỉ người đân Mỹ và người dân trên khắp thế giới đều hân hoan đón chào chiến thắng của ông giống như đón chào một kỷ nguyên mới. Người ta đã gọi chiến thắng của ông Obama là một điều kỳ diệu, là một câu chuyện cổ tích.

Ảnh minh họa

Gia đình của ông Obama trong đêm chiến thắng 4/11.

Lúc này người dân Mỹ  đang trông chờ và đặt rất nhiều hy vọng vào việc tân Tổng thống Obama sẽ giúp nước Mỹ vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế đang hết sức trầm trọng hiện nay, đưa Mỹ thoát ra 2 cuộc chiến tranh dai dẳng không có lối thoát và nâng cao uy tín đang suy giảm nghiêm trọng của nước này trên trường quốc tế.

3, Scandal sữa nhiễm bẩn ở Trung Quốc gây chấn động thế giới

Tháng 9 vừa qua, người dân trên khắp đất nước Trung Quốc đã phải đối mặt với một sự hoảng loạn thật sự sau khi scandal sữa nhiễm bẩn của Tam Lộc – tập đoàn chiếm thị phần sữa bột trẻ em lớn nhất ở Trung Quốc – nhiễm hóa chất bị phanh phui. Theo thống kê của Bộ Y tế Trung Quốc, đã có 6 trẻ tử vong vì uống phải sữa nhiễm melamine và số trẻ bị bệnh liên quan tới sữa bẩn là gần 300.000 em. Vụ bê bối trong lĩnh vực an toàn thực phẩm này là vô cùng nghiêm trọng khi nó khiến hàng ngàn trẻ em, thế hệ tương lai của đất nước Trung Quốc, nhiễm bệnh. Ngoài ra, scandal này cũng khiến người dân Trung Quốc mất niềm tin vào sản phẩm trong nước cũng như vai trò quản lý của cơ quan chức năng.

Ảnh minh họa

Sữa nhiễm bẩn đang được tiêu huỷ ở Trung Quốc.

Chưa hết, sự hoảng loạn từ vụ scandal sữa nhiễm melamine ở Trung Quốc còn lan ra nhiều nước khi sữa nhập khẩu từ Trung Quốc có mặt trên khắp thế giới. Ngoài ra, vụ sữa nhiễm bẩn cũng đã giáng thêm một đòn đánh mạnh nữa vào uy tín của hàng hoá Trung Quốc trên thị trường thế giới vốn đã bị ảnh hưởng bởi một loạt scandal trước đó.

4, Cuộc chiến tranh 5 ngày giữa Nga và Gruzia

Quan hệ Nga-Gruzia vốn từ lâu đã “cơm không lành, canh không ngọt” do Tbilisi bất mãn với việc Nga ủng hộ 2 tỉnh ly khai Nam Ossetia và Abkhazia của nước này còn Moscow không hài lòng với việc Tbilisi thân Mỹ và phương Tây. Hai nước thường xuyên cáo buộc nhau gây hấn hoặc xâm phạm lãnh thổ của nhau. Căng thẳng giữa Nga và Gruzia đã leo thang thành một cuộc chiến ngắn ngủi kéo dài từ ngày 7 đến ngày 12/8 khi Tbilisi mở một cuộc tấn công vào Nam Ossetia nhằm giành lại quyền kiểm soát khu vực này. Hơn 2.000 người chết và hàng chục ngàn người phải sơ tán do pháo kích của Gruzia. Nga đã đem quân vào đánh trả và đẩy lùi quân Gruzia ra khỏi Nam Ossetia.

Ảnh minh họa

Quân lính Nga ở Nam Ossetia.

Hai nước chỉ ngừng chiến khi Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đại diện EU đứng ra làm trung gian hoà giải. Tuy vậy, cuộc chiến này không chỉ phá hoại quan hệ Nga-Gruzia mà còn gây căng thẳng trong quan hệ giữa Nga với Mỹ và phương Tây.

5, Cướp biển Somali thách thức thế giới

Trong năm qua, tin tức về các vụ cướp biển hoành hành dữ dội ở ngoài khơi biển Somali, một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới, đã rộ lên không ngớt. Những tên cướp bị không chỉ được trang bị vũ khí đến “tận chân răng” mà còn vô cùng táo tợn và liều mạng, khiến các thương nhân lo ngại và quan chức nhiều nước phải đau đầu.

Ảnh minh họa

Cướp biển đang áp sát con tàu chở xe tăng của Ukraine.

Tính riêng trong năm nay, những tên cướp biển đã bắt giữ 83 tàu thuyền và thu về hơn 30 triệu USD tiền chuộc. Nguy hiểm hơn, những tên cướp biển này không hề sợ hãi khi phải đối mặt với hàng loạt tàu chiến được các cường quốc như Nga, Mỹ triển khai trong khu vực nhằm bảo vệ các tàu thuyền và chống lại hải tặc. Hai vụ điển hình mà bọn cướp biển gây ra là vụ bắt giữ một con tàu chở hơn 30 chiếc xe tăng của Ukraine và một con tàu chở dầu cực lớn của Ả-rập Xê-út. Vụ bắt giữ con tàu chở dầu khổng lồ của Ả-rập Xê-út đã khiến ngay cả Đô đốc Michael Mullen, Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, cũng phải thốt lên rằng ông cảm thấy “kinh ngạc” về khả năng của cướp biển Somali.

Có thế nói, cho đến lúc này, thế giới đang không kiểm soát nổi nạn cướp biển đang lộng hành ngoài khơi biển Somali.

6, Cơn cuồng nộ của tự nhiên

Hai thảm hoạ thiên nhiên kinh hoàng ở Trung Quốc và Myanmar xảy ra trong tháng 5 đã thực sự gây chấn động thế giới về mức độ tàn phá khủng khiếp của chúng. Đầu tiên là trận siêu bão ở Myanmar. Cơn bão Nargis đổ bộ vào Myanmar hồi đầu tháng 5 đã làm 138.000 người thiệt mạng và mất tích, hàng triệu người mất nhà cửa. Ngay sau đó, trận động đất mạnh 7,9 độ richter đã xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc khiến hơn 87.000 người thiệt mạng.

Ảnh minh họa

Một em bé đang bị chôn vùi dưới đống đổ nát sau khi ngôi trường em học bị đổ sập trong trận động đất.

Ngoài ra, một loạt nước Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ đã phải hứng chịu những đợt giá rét khủng khiếp. Tính ra, những thiệt hại vật chất do các thảm hoạ thiên nhiên gây ra trong năm 2008 phải lên đến hàng trăm tỉ USD. Ai cũng biết rằng một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra các thảm hoạ thiên nhiên khủng khiếp nói trên chính là sự biến đổi khí hậu. Vì thế, cộng đồng quốc tế cần đẩy mạnh nỗ lực nhằm đạt được những thoả thuận cụ thể hơn và hiệu quả hơn về việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

7, “Vụ khủng bố 11/9 ở Ấn Độ”

Ảnh minh họa

Khách sạn Taj sang trọng ở Mumbai là một trong những mục tiêu tấn công của bọn khủng bố hồi cuối tháng 11.

Cuối tháng 11, thủ phủ tài chính Mumbai của Ấn Độ đã rung chuyển bởi hàng loạt các cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng và đẫm máu. Các khách sạn sang trọng, nhà ga đông đúc và nhà hàng đông người nước ngoài qua lại đã trở thành mục tiêu của các cuộc tất công. Toàn thành phố rơi vào hoảng loạn khi cuộc chiến giữa các lực lượng an ninh Ấn Độ và những kẻ khủng bố kéo dài mấy ngày đêm. Hàng loạt vụ tấn công khủng bố được ví như sự kiện 11/9 của Ấn Độ đã cướp đi sinh mạng của gần 200 người và làm bị thương hơn 300 người. Không những thế, cơn ác mộng Mumbai còn phủ bóng đen lên mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan, đẩy hai nước suýt rơi vào một cuộc chiến tranh. Loạt vụ tấn công vào Mumbai còn cho thấy chủ nghĩa khủng bố không hề suy yếu đi.

8, Khủng hoảng chính trị ở Thái Lan

Cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan đã bắt đầu từ cách đây 2 năm khi Thủ tướng Thaksin bị lật đổ trong một cuộc đảo chính không đổ máu cuối năm 2006. Kể từ mốc thời điểm đó, chính trường Thái Lan luôn trong tình trạng “sóng to, gió lớn” do mâu thuẫn giữa một bên là những người ủng hộ cựu Thủ tướng Thaksin và một bên là người chống lại ông này. Cuộc khủng hoảng này đã ngày càng trở nên trầm trọng từ tháng 8 năm nay khi những người biểu tình chống chính phủ (cũng là chống Thaksin) do Đảng Liên minh nhân dân vì dân chủ (PAD) dẫn đầu đã chiếm đóng Toà nhà chính phủ liên tục trong nhiều tháng với quyết tâm lật đổ chính phủ.

Ảnh minh họa

Biển người biểu tình tại sân bay quốc tế ở thủ đô Bangkok.

Tình hình căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm bằng việc những người biểu tình tiến tới phong toả hai sân bay quốc tế quan trọng ở thủ đô Bangkok, khiến hàng trăm nghìn du khách mắc kẹt lại tại Thái Lan. Mọi việc chỉ tạm lắng xuống khi Toà án Hiến pháp Thái Lan ra phán quyết giải thể 3 đảng lớn trong liên minh cầm quyền đồng thời cấm Thủ tướng tham gia chính trường trong vòng 5 năm. Hôm 15/12 vừa rồi, Quốc hội Thái Lan đã bầu chọn Lãnh đạo Đảng Dân chủ đối lập Abhisit lên làm Thủ tướng mới của nước này, mở ra hy vọng về một thời kỳ ổn định ở đất nước Chùa Vàng.

9, Bộ đôi quyền lực “Medvedev-Putin”

Ảnh minh họa

Tổng thống Medvedev (bên trái) và Thủ tướng Putin.

Cuộc bầu cử tổng thống Nga hồi tháng 3 đã thu hút sự chú ý không chỉ của báo giới mà với cả nhiều người dân thế giới do Tổng thống Putin lúc đó là người vô cùng nổi tiếng và được nhiều người ngưỡng mộ. Người ta đã đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi về việc ông Putin sẽ làm gì sau khi hết nhiệm kỳ tổng thống và ảnh hưởng của ông đối với Nga sẽ như thế nào khi ông không còn là tổng thống nữa. Với việc ông Dmitry Medvedev, người được Putin chọn làm người kế nhiệm, đã giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử, trở thành tân tổng thống của nước Nga cùng với việc ông Putin được bổ nhiệm làm Thủ tướng, nước Nga đã có một cặp đôi quyền lực “Medvedev-Putin”. Dưới sự dẫn dắt của bộ đôi quyền lực này, nhiều nhà phân tích cho rằng nước Nga sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, khôi phục lại vị thế siêu cường đã mất sau khi Liên Xô tan rã.

10, Tranh chấp biên giới đẩy Campuchia và Thái Lan đến bờ vực của một cuộc chiến tranh

Đúng một tuần sau khi Preah Vihear – ngôi đền gây tranh cãi giữa Campuchia và Thái Lan – được đưa vào danh sách Những Di sản thế giới hồi tháng 7, cuộc tranh chấp xung quanh khu vực có ngôi đền trên giữa 2 nước đã bùng lên mạnh mẽ. Căng thẳng giữa Campuchia và Thái Lan bắt đầu gia tăng kể từ ngày 15/7 khi 3 người biểu tình Thái Lan xâm nhập vào bên trong ngôi đền Preah Vihear và đã bị quân đội Campuchia bắt giữ trong một thời gian ngắn. Ngay sau đó, các quan chức Campuchia cáo buộc khoảng 40 binh sĩ Thái Lan đã tiến sang lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, sau đó họ đã nói rằng nguyên nhân của vụ “xâm nhập” trên chỉ là do các binh sĩ Thái Lan đã có sự nhầm lẫn về đường biên giới chính xác giữa 2 nước. Tiếp theo đó, cả Thái Lan và Campuchia đều cho triển khai hàng trăm binh sĩ của nước mình và vũ khí ngay tại khu vực biên giới giữa hai nước, đẩy tình hình căng thẳng giữa 2 bên có lúc lên đến mức báo động. Có thời điểm quân đội 2 nước đã chĩa súng vào nhau trong vòng 10 phút. Rất may là sau đó tình hình đã lắng dịu khi lãnh đạo hai bên đã có những cuộc tiếp xúc, thảo luận với nhau.

Ảnh minh họa

Một người lính Campuchia đang đứng gác ở ngôi đền cổ Preah Vihear.

Hiện hai bên đang nỗ lực giải quyết cuộc tranh chấp lãnh thổ thông qua những cuộc đàm phán nhưng vẫn chưa có bước đột phá nào đạt được trừ việc hai bên cam kết sẽ kiềm chế, không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề.

11, Sóng gió trong quan hệ Nga-Mỹ

Ảnh minh họa

Mặc dù quan hệ cá nhân giữa Tổng thống Bush và Tổng thống Putin khá tốt đẹp nhưng quan hệ giữa Nga-Mỹ lại ngày càng xấu đi (Ảnh chụp hồi tháng 4).

Quan hệ Nga-Mỹ tiếp tục có một năm đầy sóng gió. Căng thẳng trong quan hệ Nga-Mỹ xung quanh kế hoạch lá chắn tên lửa của Mỹ ở Đông Âu đã được bắt đầu từ năm 2007 và tiếp tục kéo dài, trầm trọng hơn trong năm nay. Ngoài bất đồng về kế hoạch lá chắn tên lửa, Washington cũng đã khiến Moscow nổi giận khi ủng hộ Gruzia trong cuộc xung đột với Nga ở Nam Ossetia và việc Washington nỗ lực thúc đẩy tiến trình gia nhập NATO của hai nước láng giềng của Nga là Gruzia và Ukraine. Để trả đũa cho những động thái của Mỹ, Nga đã tìm cách thắt chặt quan hệ với những nước Châu Mỹ Latin vốn luôn được coi là sân sau của Mỹ bằng những chuyến viếng thăm cấp cao, những cuộc tập trận chung và những hợp tác quân sự, kinh tế, năng lượng.

12, Bão tố trong quan hệ liên Triều

Quan hệ liên Triều bắt đầu xấu đi kể từ sau khi Tổng thổng Hàn Quốc Lee Myung-bak lên nhậm chức hồi tháng 2 với cam kết sẽ thực thi một chính sách cứng rắn hơn với CHDCND Triều Tiên. Tổng thống Lee đòi hỏi Bình Nhưỡng phải thực hiện các biện pháp phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên thì mới nhận được viện trợ từ Seoul. Trước đây, Seoul cung cấp viện trợ một cách vô điều kiện cho Bình Nhưỡng. Căng thẳng trong quan hệ liên Triều tiếp tục leo thang sau vụ một binh lính của CHDCND Triều Tiên bắn chết một nữ du khách Hàn Quốc ở khu du lịch Núi Kim Cương. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng làm CHDCND Triều Tiên nổi giận khi không có biện pháp ngăn chặn các nhà hoạt động của nước này giải truyền đơn chống chính quyền CHDCND Triều Tiên ở khu vực dọc biên giới giữa hai nước.

Ảnh minh họa

Bình Nhưỡng đã đóng cửa biên giới với Seoul từ đầu tháng 12.

Quan hệ “căng như dây đàn” giữa Hàn Quốc và Triều Tiên đã bước sang một giai đoạn mới khi Bình Nhưỡng tuyên bố đóng cửa biên giới đất liền với Hàn Quốc đồng thời trục xuất người Hàn Quốc ra khỏi khu công nghiệp chung của hai nước. Giữa hai nước còn liên tục xảy ra các cuộc khẩu chiến, đe doạ và chỉ trích lẫn nhau.

  • Hải Yến

Lựa chọn văn hóa, giải quyết “bi kịch” sử

October 17, 2008
Một khi cái giả biến thành cái thật, được đem rao giảng cho thế hệ trẻ thì khác nào chất axít gậm nhấm tâm hồn họ. Sự thật lịch sử bị vùi lấp, xuyên tạc bởi bất kỳ lý do gì cũng làm giảm sút, nao núng lòng tin, lòng tự hào về lịch sử dân tộc của lớp trẻ – chất ximăng kết dính những tâm hồn Việt Nam. Nhìn lại lịch sử triều Nguyễn chính là cách Việt Nam nâng cao bản lĩnh dân tộc – GS. Tương Lai

>> Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

Nhìn lại chuyện học môn lịch sử ở nước ta

“Lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được” (Fernand Braudel). Chính vì thế, hiểu biết sâu sắc về lịch sử đất nước mình, tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc mình là nền tảng cơ bản để hình thành lòng yêu nước, một phẩm chất đặc biệt và cũng là một động lực lớn lao của con người Việt Nam qua mọi thời đại.

Năm 2006 trong 4622 thí sinh thi vào Đại học Sư phạm Hà nội, 655 thí sinh bị điểm 0 môn sử (chiếm 15%) và chỉ có 6 thí sinh được điểm 8 trở lên, so với năm 2005 là 103/5399, nếu tính gộp cả bốn trường đại học, trong đó ba là Sư phạm, nghĩa là trường đào tạo ra những người thầy dạy lịch sử, thì 58,5%  thí sinh có điểm lịch sử từ 1 trở xuống. Thế rồi, năm 2007, có 150.234 thí sinh bị điểm từ 0 đến 4,5 điểm, chiếm tỷ lệ tới 95,74% tổng số thí sinh khối C, số bị điểm 0 gần 6000!)

Vì thế, “môn lịch sử giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ gìn bản sắc dân tộc” như sự khẳng định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội khoa học lịch sử Việt Nam trong thư gửi “Hội thảo bàn về thực trạng dạy và học sử” cách đây hai năm khi xã hội rung chuông báo động về việc học sinh đang chán học môn sử, điểm thi môn sử quá kém.

Đã có nhiều phân tích sâu sắc, trong đó, sự phê phán tập trung vào Bộ GD&ĐT. Chuyện ấy không oan tí nào. Song, nếu chỉ đổ hoàn toàn cho Bộ GD&ĐT thì liệu có thể giải quyết tận gốc vấn đề học sinh không thích học môn lịch sử không? Sách giáo khoa lịch sử có nhiều vấn đề, điều ấy Bộ GD&ĐT phải chịu trách nhiệm, thế còn những công trình nghiên cứu lịch sử chất lượng kém thì do ai chịu trách nhiệm? Chất lượng của công trình nghiên cứu lịch sử đã được xuất bản là điểm tựa để đảm báo tính chính xác khoa học của sách giáo khoa lịch sử, là sức hấp dẫn người soạn sách giáo khoa lịch sử. Khi chất lượng ấy có vấn đề thì trách nhiệm thuộc về ai?

Ai chỉ đạo xây dựng những công trình đó, trình độ khoa học và bản lĩnh của nhà sử học có ảnh hưởng gì đến chất lượng công trình lịch sử nước nhà hay không? Không thể đặt bộ môn lịch sử riêng rẽ trong hệ thống kiến thức khoa học mà thế hệ trẻ cần được giáo dục, khi mà một quan điểm chính thống đã được áp đặt vào việc nghiên cứu và xuất bản các công trình nghiên cứu lịch sử và biên soạn các sách giáo khoa lịch sử thì cho dù có không ít những ý kiến không đồng tình cũng không thể xoay chuyển được tình thế chung.

Ấy thế mà vấn đề viết sách giáo khoa lịch sử không chỉ nhận được sự quan tâm tán thành hay phản đối về nội dung, sự kiện và quan điểm của công chúng trong nước, mà có khi lại là một cuộc đấu tranh ngoại giao phức tạp giữa các quốc gia từng có những mối quan hệ lịch sử. Chuyện Hàn Quốc phản đối một số nội dung được đưa vào sách giáo khoa lịch sử của Nhật là một ví dụ.

Và cũng đừng quên rằng, hiện nay vẫn đang diễn ra tình trạng in và lưu hành công khai những xuyên tạc lịch sử nhằm vào những mưu đồ đen tối mà chúng ta không thể không cảnh giác phát hiện và đấu tranh. Chỉ có thể hiểu sâu những điều này khi đặt những công trình nghiên cứu lịch sử và sách giáo khoa lịch sử trong hệ thống các khoa học xã hội và nhân văn, và hệ thống ấy nằm trong nền văn hóa dân tộc.

Lịch sử và tầng sâu văn hóa của một dân tộc

Thành Gia Định (Sài Gòn) vẽ theo tư liệu của bản đồ Bruyn 1795,
Trần Văn Học 1815

Chỉ khi chúng ta suy ngẫm và hiểu ra được về những gì đã hun đúc nên văn hoá Việt Nam, hình thành cốt cách con người Việt Nam, chúng ta mới hiểu rõ bộ môn khoa học lịch sử giữ một vị trí quyết định như thế nào trong nền văn hóa ấy.

Bởi lẽ, văn hoá không phải là một hệ thống đóng kín những giá trị loại biệt mà là một tổng hợp đang phát triển của các thành tựu vật chất và tinh thần của một dân tộc. Văn hóa là một cấu trúc có bề sâu. Cuộc sống xã hội được phản chiếu ở bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hóa được phân chia theo những tầng khác nhau, thường tiềm ẩn và vô thức. Ở độ sâu này, ta thấy có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa điều chỉnh bề mặt ở bên trên.

Nói đến “sức mạnh văn hoá”, “bản lĩnh văn hoá”, “bản sắc văn hoá”, chính là nói đến sự tiềm ẩn và vô thức này nằm chìm trong đời sống của dân tộc. Chính cái đó làm nên ý thức dân tộc, tạo ra sức mạnh Việt Nam, ý thức và sức mạnh làm cho đất nước này, dân tộc này tồn tại và phát triển. Đúng là: lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được. Không có ý thức đó thì không thể có một nền văn hóa dân tộc và cũng chẳng thể nào xây dựng được một xã hội Việt Nam hiện đại và văn minh.

Dòng chảy lịch sử là bất tận, nó tạo nên sức mạnh bất diệt của một dân tộc. Thế hệ trẻ Việt Nam phải được hiểu kỹ về dòng chảy bất tận đó, phải được tắm mình vào trong dòng chảy bất tận đó để tự hào về ông cha mình đã bao đời kiên cường, bất khuất dựng nước, mở nước và giữ nước để trao lại cho thế hệ hôm nay gìn giữ và phát triển. Không có niềm tự hào về dân tộc, tự hào về nền văn hóa dân tộc sẽ không thể vững tin mà đến với thế giới.

Ở thời đoạn quá trình phát triển và hội nhập đi vào chiều sâu, càng phải nâng cao sự hiểu biết của thế hệ trẻ về lịch sử, hiểu rõ về ông cha mình, thấy ra được chỗ mạnh và chỗ yếu của dân tộc mình. Trên ý nghĩa đó, việc dạy và học lịch sử, những công trình khoa học lịch sử chất lượng cao có tác động lớn đến việc đào luyện con người, con người Việt Nam hôm nay đang phải đối diện với những thách đố chưa từng có.

Tính trung thực lịch sử và bản lĩnh người viết sử

Đội nhã nhạc triều Nguyễn. Ảnh từ Internet

Một trong những vấn đề quan trọng nhất, cũng có thể nói đó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng công trình nghiêu cứu lịch sử, điểm tựa để đảm bảo tính chính xác khoa học của sách giáo khoa lịch sử, tiền đề hết sức quyết định của việc cuốn hút, hấp dẫn và có tác động mãnh liệt đến tình cảm tư tưởng của thế hệ trẻ, giúp vào việc xây dựng nhân cách và bản lĩnh cho thế hệ trẻ, đó là tính trung thực lịch sử.

Một khi mà tính trung thực lịch sử của một số công trình đã đến với đông đảo công chúng chưa cao, điều mà phần lớn những nhà sử học có nhân cách đều biết, song cho đến nay, dường như vấn đề này vẫn chưa được đặt ra một cách sòng phẳng, nghiêm túc và minh bạch.

Đương nhiên trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tính chân lý lịch sử sẽ phải được công bố như thế nào còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, song dù chưa công bố thì rồi tính chính xác khoa học của lịch sử sớm muộn cũng phải thể hiện ra.

Vì vậy, cùng với việc nâng cao chất lượng sách giáo khoa lịch sử, nâng cao trình độ dạy sử của người thầy và ý thức đối với việc học sử của học trò nhằm bồi dưỡng tình cảm yêu nước và tinh thần dân tộc cho thế hệ trẻ, phải đặt ra vấn đề chất lượng khoa học của các công trình nghiên cứu lịch sử mà ở đó, tính trung thực của tác giả công trình nhằm làm sáng tỏ chân lý lịch sử là điều có ý nghĩa rất quyết định.

Liệu có cần nhắc lại ở đây một khuyến cáo của ông Mittrrand “thái độ của giới trẻ với lịch sử là thước đo sự tín nhiệm chính trị với chế độ”. Vị tổng thống đương nhiệm của nước Pháp vào những năm 80 của thế kỷ XX ấy, khi sang thăm Việt Nam, đã đến xem xét tận nơi chiến trường Điện Biên Phủ trước đây, biểu thị một ứng xử văn hóa sâu sắc thể hiện thái độ sòng phẳng với lịch sử.

Ai cũng có thể hiểu được rằng Điện Biên Phủ đã trở thành một sự kiện lịch sử đánh dấu sự thảm bại của một đế chế thực dân, kéo theo sự sụp đổ hệ thống thuộc địa trên thế giới. Sự kiện lịch sử ấy đã để lại một dấu ấn như thế nào trong lịch sử quân đội Pháp nói riêng và nước Pháp nói chung. Liệu có thể hiểu ứng xử văn hóa ấy của vị Tổng thống Pháp cũng là biểu thị của tính trung thực lịch sử không?

Tính trung thực lịch sử ấy lại càng phải đậm nét trong các công trình nghiên cứu lịch sử mà ở đó, thể hiện tập trung trình độ chuyên sâu và bản lĩnh của nhà sử học. Gợi lên hình ảnh trên để khỏi phải nhắc lại chuyện mà hầu như nhà sử học nào cũng biết việc cả ba anh em người viết sử nước Tề dù rơi đầu dưới lưỡi gươm của Thôi Trữ vẫn không chịu sửa một chữ của sự thật lịch sử là “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công”. Bản lĩnh ấy của người viết sử, của người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử là điều xã hội đang trông chờ.

Lựa chọn văn hóa và giải quyết “bi kịch” lịch sử

Phải chăng để đáp ứng sự trông chờ đó mà có Hội thảo khoa học về “chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” ngày 18 và 19 tháng 10 năm 2008 tại Thanh Hóa – nơi phát tích của nhà Nguyễn – nhân kỷ niệm 450 năm Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và sau đó là Quảng Nam, mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dân tộc.

Đúng như Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhấn mạnh: “việc nhìn nhận, đánh giá lại chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn ngày càng trở thành một nhu cầu, đòi hỏi bức thiết, đầu tiên là của giới sử học, sau đó là của tất cả những nhà khoa học xã hội, và trở thành đòi hỏi của xã hội ”. Vì rằng, mặc dầu “triều Nguyễn đã để lại một di sản khổng lồ, vĩ đại mà không triều đại nào trong lịch sử có thể sánh được” nhưng ngót một thế kỷ qua, sự thật lịch sử đó đã bị vùi lấp. Đó là một bi kịch lịch sử lớn.

Nguyên nhân của bi kịch ấy có nhiều, song đúng như phân tích của Gs. Phan Huy Lê “về sử học thuần túy, đó là thời kỳ mà nền sử học Macxít đang hình thành, nên sự ấu trĩ, giáo điều, công thức buổi đầu là không tránh khỏi”.

Cùng với vấn đề phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu, cần phải nói thêm là việc tồn tại thói độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết của một số người có quyền, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đã là nguyên nhân trực tiếp và kéo dài khiến cho nhiều sự thật lịch sử đã không được trình bày một cách khách quan, trung thực. Theo cách nói của Phạm Văn Đồng thì đó là “lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Trong cách nghĩ và cách làm sai lầm này, điều nguy hiểm nhất là bất chấp quy luật của lịch sử”.

Với sự nghiệp Đổi mới, từ sự đổi mới tư duy về kinh tế mà đổi mới về tư duy nói chung để thấy ra sự phi lý của những quan điểm chính thống “quay lưng lại với bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những giá đắt phải trả. Rõ ràng đây là một sự thiếu sáng suốt trong nhận thức và hành động, trong lý luận và thực tiễn”. Những quan điểm gọi là chính thống ấy khi áp đặt vào việc biên soạn sách giáo khoa sử học cũng như từng áp đặt cho các công trình nghiên cứu lịch sử thì “những giá đắt phải trả” là khó mà có thể đo đếm được.

Khi một cái giả biến thành cái thật, được đem rao giảng cho thế hệ trẻ thì khác nào chất axít gậm nhấm tâm hồn lớp trẻ, làm sao đo đếm được cái chất axít gậm nhấm tâm hồn ấy? Sự thật lịch sử bị vùi lấp, tệ hơn, bị xuyên tạc do nhiều động cơ và nguyên nhân khác nhau, nhưng cho dù bởi bất kỳ lý do gì, thì cũng làm giảm sút hay làm nao núng lòng tin của lớp trẻ vào những trang lịch sử hào hùng của dân tộc, hun đúc nên lòng tự hào dân tộc, chất ximăng kết dính những tâm hồn Việt Nam, tạo nên sức mạnh Việt Nam để phấn đấu bứt lên thoát khỏi nổi nhục nghèo nàn và lạc hậu để sánh vai cùng thế giới.

Vả chăng, “văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội” như Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ thì lịch sử dân tộc với những khúc tráng ca và bi ca có sức lay động mãnh liệt tinh thần và tình cảm của con người Việt Nam mọi thời đại có ý nghĩa quyết định đến nền tảng tinh thần ấy.

Đặc biệt là khi mà tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước đi vào chiều sâu thì việc nâng cao bản lĩnh văn hóa có ý nghĩa hết sức quyết định. Bởi lẽ, với tiến trình ấy cần phải nhận thức được rằng “trước hết không phải là chuyện kinh tế mà là chuyện văn hóa, một chuyển động về văn hóa và tư tưởng có khi sâu sắc nhất xưa nay, một thay đổi trong tâm lý dân tộc… đây là sự chọn lựa văn hóa” (Nguyên Ngọc). Sự chọn lựa đó không phải bây giờ mới có. Trong lịch sử đã từng có, ít nhất có thể kể đến hai lần khá tiêu biểu.

Lần thứ nhất là cuối thiên niên kỷ thứ nhất, đầu thiên niên kỷ thứ hai với việc từ bỏ cái gốc Đông Nam Á để tiềp nhận nền văn hóa “Hán hóa”, văn hóa Trung Hoa, nhằm tạo ra một nhà nước mạnh đủ sức chống chọi lại với họa xâm lược đến từ phương Bắc để đến thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt có thể dõng dạc tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, khẳng định ý chí độc lập tự cường của dân tộc ta. Lời khẳng định đó được xem như “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ nhất, để dẫn đến “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ hai với “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi.

Cuộc chọn lựa khôn ngoan lần thứ hai của Nguyễn Hoàng, đưa đến một đất nước mở rộng với tư duy “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, phi Hán hóa không chỉ về măt văn hóa, tư tưởng mà còn với sự lùi xa “cương vực” về phía Nam, từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên, hình thành một quốc gia lớn mạnh đủ sức cho Quang Trung đại phá quân xâm lược đến từ mọi phía.

Nhân kỷ niệm 450 năm Nguyễn Hoàng mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dân tộc, hy vọng rằng “Hội thảo khoa học về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” sẽ là một dấu ấn đậm nét về một thời kỳ phát triển mới của ngành khoa học lịch sử góp phần nâng cao bản lĩnh văn hóa dân tộc, góp phần củng cố “nền tảng tinh thần của đời sống xã hội”.

  • GS. Tương Lai


CÔNG TỬ BẠC LIÊU

October 9, 2008

Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900-1973, còn có tên khác là Ba Huy) là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ để chỉ những kẻ ăn chơi.

Vốn thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Trạch” để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” có từ lúc ấy. Về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công tử này. Từ đó “Công tử Bạc Liêu” trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.

Tên thật Trần Trinh Huy
Sinh 22 tháng 6 năm 1900
Mất 1973

Xuất thân

Trần Trinh Huy, tên thật là Trần Trinh Quy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1900, nhưng do cho rằng cái tên “Quy” không sang trọng nên ông đổi lại thành “Huy”. Ngoài tên Công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy còn mang nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền, sự thật thì Ba Huy không là thành viên trong hội đồng nào), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử).

Trần Trinh Huy là con trai ông Trần Trinh Trạch, tức Hội Đồng Trạch, một người xuất thân là thư ký làng, nhờ cưới được cô Tư, con gái của ông bá hộ Phan Văn Bì, người có đất ruông nhiều nhất trong tỉnh Bạc Liêu, người ta tặng cho ông Bá hộ là “Vua lúa gạo Nam Kỳ”. Ông Bá hộ chọn rể cho cô con gái thứ Tư trong trường hợp đặc biệt. Hằng năm ông tới Tòa Bố (tòa Hành chánh) tỉnh đóng thuế điền địa. Trong nhiều năm ông chấm viên thư ký điền địa tên Trần Trinh Trạch là người đứng đắn đàng hoàng. Ông hỏi thăm gia thế thì biết thầy ký Trạch chưa vợ. Ông mời về nhà chơi, tạo thuận lợi cho thầy ký Trạch trông thấy cô con gái thứ tư của ông. Nhiều lần tới lui, hai bên “mến tay mến chân”. Ông Bá hộ thấy hai đứa nhỏ “tình trong như đã mặt ngoài còn e” liền làm lễ cưới. Ông cho con gái và rễ một sở đất để ra riêng. Thầy ký Trạch xin nghỉ làm công chức điền địa để làm chủ điền. Với trình độ văn hóa tương đối khá, lại có ông già vợ cho đất, giúp vốn nên không bao lâu thầy kỳ Trạch phất lên. Với huê lợi hàng năm, ông sắm thêm đất điền. Có điều ông Bá hộ không thích là đất ông tách bộ cho các con của ông lần lượt chạy về tay chàng rể thứ tư. Nguyên do là các con ông mê cờ bạc nên đem đất điền cầm cố nơi anh rể. Cầm cố lâu năm không chuộc kể như mất luôn. Ông Bá hộ chỉ tự an ủi là “lọt sàng xuống nia”, các sở đất đó không rơi vào người ngoài, thương con gái thì phải thương rể. Nhờ vậy, Hội Đồng Trạch càng ngày càng giàu có, đồn điền ruộng lúa có thể được xếp vào hàng bậc nhất miền Nam lúc bấy giờ. Có người viết:

Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh
Giàu như ông Trạch cũng buồn thiu

Trần Trinh Trạch là chủ sở hữu của 74 sở điền, với 110.000 ha đất trồng lúa, gần 100.000 ha ruộng muối. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ (gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô là của ông Hội Đồng Trạch, một lô còn lại của cha sở và một lô của dân thường. Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3 trai. Trong 3 người con trai của ông Trạch (Trần Trinh Đinh, Trần Trinh Huy và Trần Trinh Khương) thì Ba Huy là ăn chơi hơn cả.

Con người

Trần Trinh Huy từng đi du học ở Pháp, sau ba năm về nước không một mảnh bằng, để lại một người vợ Pháp và một đứa con ở lại Paris. Khi Ba Huy về nước ông Trạch kéo gia đình lên Sài Gòn đón quí tử. Chiếc xe Ford đang dùng tốt nhưng ông nói nhân sự kiện đặc biệt này phải sắm thêm một chiếc xe mới, cho xứng với học hàm, học vị của cậu Ba, cho rạng mặt Trần gia.

Trần Trinh Huy là người cao lớn, khoảng 1,70 m, lực lưỡng nhưng không cục mịch, trái lại dáng người rất thanh thoát, sang trọng, da đen, mày rậm… người đầy sinh lực. Tính tình Huy rất dễ dãi và hào phóng. Người trong nhà lầm lỗi, Huy cũng ít rầy la. Bà con ở xa lên thăm, Huy đều cho tiền. Tá điền không thấy Huy đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ Huy còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền Bàu Sàng ít ai oán ghét Ba Huy.

Trong các mối quan hệ, Ba Huy là người khoáng đạt, không dè dặt và mưu toan gì. Thời đó, các cậu công tử lẫn điền chủ điều chơi với người Pháp thì rất khúm núm, nịnh nọt, gọi là “chơi thế”. Riêng Ba Huy thì cứ “toa toa” “moa moa” sòng phẳng, ngang hàng. Nếu như trong mắt giới giang hồ tứ chiếng, Ba Huy là một người ngon nhất Nam bộ, thì trong mắt người Pháp, Huy được nể trọng vì có vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình. Tánh của Ba Huy vị tha và coi tiền như rơm rác. Bút tích của Huy cho thấy tuy nét chữ bay bướm nhưng lại rất xấu, chứng tỏ đó là một con người thông minh, từng trải nhưng đường học vấn không đến nơi đến chốn.

Ba Huy cũng là người rất cởi mở, không cổ hủ, cực đoan như nhiều điền chủ khác. Ông từng ủng hộ Việt Minh một lúc 13.000 giạ lúa. Công tử Bạc Liêu còn tỏ ra là một con người tự trọng, đã hứa với Chính phủ những gì thì ông sẽ làm thế ấy. Ông đã hứa với người lãnh đạo cao nhất của Tỉnh ủy Bạc Liêu là giảm tô, không hợp tác với Pháp, gửi vải vóc thuốc men cho kháng chiến và thực hiện đúng như vậy. Thích hội hè, Ba Huy có lẽ là người tổ chức hội chợ và hội thi “Hoa hậu miệt đồng” đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long.

Ba Huy có bốn người vợ và rất nhiều nhân tình. Người vợ đầu là người Pháp, trong thời gian Ba Huy đi học ở Paris. Về nước ông cưới một người vợ ở Bạc Liêu là Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô Hai Lưỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn. Ông lấy thêm một bà nữa và sinh được ba người con: Nghĩa, Nhơn, và Đức.

Bà cuối cùng, khoảng năm 1968, Ba Huy dọn về căn nhà phố đường Nguyễn Du, Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn xuống, ông thấy một cô gái gánh nước đi qua đẹp quá. Hỏi thăm thì đựơc biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Ba Huy đến nhà ông già xin “đổi” căn nhà đó lấy cô gái. Ông già và cô gái sau khi bàn bạc đồng ý. Và đó là người vợ cuối cùng của Ba Huy, kém ông đến 50 tuổi. Bà sống chung thủy với ông đến ngày ông qua đời. Họ có ba con trai và một con gái tên Hoàn, Toàn, Trinh và Nữ.

Ba Huy còn rất nhiều con với các nhân tình. Tuy những người đó không phải vợ chính thức nhưng con cái của họ đều được Trần gia thừa nhận. Ông mất năm 1973 ở Sài Gòn và được đưa về an táng trong phần mộ gia đình tại ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

Khách sạn công tử bạc liêu

Những giai thoại

Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Huy đi vào các sở điền bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc này là một sự kiện đặc biệt, Ba Huy đi đến đâu tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa được nhìn thấy xe hơi, ca nô bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội Đồng Trạch, dưới quyền ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ “mẫu quốc” qua làm mướn cho bên vợ, mãi đến tháng 4 năm 1975 mới về nước.

Công tử Bạc Liêu rất mê nghề võ. Vào nữa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ba Huy không học võ Tây hay võ Ta mà học võ Xiêm. Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông thầy thượng hạng về dạy cho mình và Tám Bò, là em út của ông ta.

Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200 ngàn giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc quí tử về. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân.

Ba Huy sinh hoạt cực kì sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, cây “can”…

Công tử Bạc Liêu là một người luôn xê dịch và rất ham vui, những cuộc ăn chơi nổ trời diễn ra, Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh. Mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần Thơ. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.

Hắc công tử và Bạch công tử

Bạch công tử

Bạch công tử là Lê Công Phước hay còn gọi là George Phước, con trai của Đốc phủ Lê Công Sủng, người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho. Phước cũng là một tay chơi nổi tiếng khi đó, da trắng nên được gọi Bạch công tử để phân biệt với Ba Huy. George Phước say mê cải lương, từng qua Pháp học về sân khấu. Về nước Phước cùng một người khác bỏ tiền lập hai gánh hát Phước Chương và Huỳnh Kỳ nổi tiếng với cô đào chánh đệ nhất tài sắc đương thời là cô Bảy Phùng Há và một cô đào tài sắc khác là Năm Phỉ. Cùng nổi tiếng ăn chơi, Bạch công tử và Hắc công tử trở thành kỳ phùng địch thủ.

Hắc công tử và Bạch công tử

Tác giả Nguyễn Thiện viết:

“Đang lúc cô Ba Trà, một người con gái có sắc đẹp làm xao xuyến tâm hồn Bạch công tử, thua bài sạch túi, ông trưởng giả lớn tuổi chưa kịp cung phụng tiền bạc tiếp để vừa lòng mỹ nhân, Bạch Công tử lù lù lái xe lại nhà cô Ba Trà, rủ xuống Cần Thơ ăn cá cháy và đánh bài gỡ bạc.

Hai người xừa xuống đến quán Bungalows ở Cần Thơ, máy xe chưa nguội thì chiếc Sport tám máy của Hắc Công Tử cũng vừa tới, thắng cái két. Cả hai lâm vào cảnh khó xử, việc chiếm được mỹ nhân chỉ còn cậy vào tài chinh phục của bản thân mình. Cả ba cùng đưa nhau vào khách sạn. Bạch Công tử lột chiếc cà rá hột xoàn trị giá 3.000 đồng vào thời đó để trên bàn trước khi vào phòng tắm. Lúc trở ra, thấy cô Ba Trà đeo thử nó trên tay, Bạch Công tử liền lên tiếng tặng luôn. Sau đó Hắc Công tử đã mua tặng cô Ba Trà một chiếc nhẫn trị giá gấp đôi…”

Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ cùng cô Bảy Phùng Há về Bạc Liêu biểu diễn, Bạch công tử mời Hắc công tử đến xem. Đang xem, Bạch công tử móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công [7], Bạch công tử cuối xuống tìm kiếm. Hắc công tử thấy vậy hỏi:

- Chú kiếm gì vậy?

- Tôi kiếm tờ con công.

Hắc công tử mỉm cười nói:

- Để tôi đốt đuốc cho chú kiếm.

Nói rồi Hắc công tử móc tờ giấy bạc bộ lư châm lửa soi cho Bạch công tử kiếm. Bị một vố quá nặng, vãn tuồng, Bạch công tử mới nói:

- Toa chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi người ký đậu xanh, rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng? – Hắc Công Tử đáp “Chú cũng vậy nữa kìa! Ấy dà, Chú muốn chơi hả? Được,vậy để tôi chơi cho chú chết luôn!”

Tối hôm sau, Hắc công tử cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà cứ mỗi thước cho một gia nhân cầm đuốc soi đường, nghinh đón phái đoàn của Bạch công tử. Cuộc thi được tổ chức ở đại sảnh nhà lớn của Trần gia. Lửa của tiền giấy thì rất kém nhiệt, chỉ cháy nhỏ, vì thế họ nấu chè rất lâu trong sự căng thẳng của rất nhiều người chứng kiến. Trán ai cũng rịn mồ hôi hột, nhất là những người trong gia đình họ Trần. Cuối cùng, nồi chè Bạch công tử sôi trước, Hắc công tử đành thua cuộc. Nhưng Ba Huy tuyên bố rằng ông ta thua trong danh dự.

Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thương hiệu du lịch hấp dẫn của tỉnh Bạc Liêu. Tòa biệt thự của Ba Huy khi xưa nay trở thành Khánh sạn Công tử Bạc Liêu.

Ngôi biệt thự của công tử Bạc Liêu được xây dựng từ năm 1919, do kỹ sư người Pháp thiết kế. Để đảm bảo độ bền và diện mạo kiến trúc, chủ nhân đã đặt hàng và cho chuyên chở toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền, gạch, khung sắt trang trí từ Pháp qua. Các bù loong, ốc vít cho các chi tiết xây dựng đều được đóng dấu chìm mẫu tự P rất hoa mỹ, chứng thực sản xuất tại thủ đô Paris. Người dân Bạc Liêu gọi đây là “Nhà Lớn”. Không chỉ đẹp về kiến trúc, nội thất mà nhà Hội đồng Trạch cũng qui tụ vô số đồ gỗ, sứ, đồng… quý giá. Những bảo vật đó đến nay không còn do con cháu không giữ được, do mất mát vì chiến tranh hoặc những nguyên nhân khác. Có hai món đồ quí hiện được giữ nguyên vẹn ở chùa Chén Kiểu, Sóc Trăng là chiếc giường ngủ chạm khắc tuyệt mỹ và bộ bàn ghế cũng chạm trổ công phu. Đây là hai món quà do Ba Huy hào phóng tặng nhà chùa.

Hiện nay, ngôi biệt thự đó trở thành khách sạn Công Tử Bạc Liêu với 6 phòng ngủ. Trong đó 5 phòng bình thường và căn phòng Ba Huy từng ở trước đây có giá gấp đôi. “Phòng công tử” có một giường đôi, ti vi, máy lạnh, một bàn viết, một tủ áo và toilet khá rộng kế bên. Điểm độc đáo nhất của căn phòng này là chiếc máy điện thoại có từ đời Pháp thuộc đến giờ vẫn sử dụng tốt. Căn “phòng công tử” luôn đắt khách, nhất là người nước ngoài. Du khách muốn qua đêm tại đây buộc phải đặt phòng trước cả tháng. Cách khách sạn Công Tử Bạc Liêu không xa, còn có một cụm khách sạn, nhà hàng khác cũng mang tên Công Tử.

Cuối năm 2004, nhà văn Phan Trung Nghĩa của báo Bạc Liêu đã cho xuất bản quyển Công tử Bạc Liêu – Sự thật và giai thoại gồm nhiều câu truyện và tư liệu sưu tầm về Trần Trinh Huy.

Nguồn Wikipedia


Thủ tướng Trung Quốc trả lời CNN

October 1, 2008
Thủ tướng Ôn Gia Bảo
Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nắm quyền từ sáu năm qua

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hiếm hoi với truyền thông nước ngoài, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nói nước này lo ngại bị ảnh hưởng nếu kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái.

Ông cũng trả lời nhiều câu hỏi liên quan vai trò Trung Quốc giữa thế giới và viễn cảnh dân chủ, khi nói chuyện với nhà báo Fareed Zakaria của CNN.

Trong cuộc phỏng vấn phát đi hôm 28 tháng Chín, Thủ tướng Trung Quốc nói nước ông vẫn là nước “đang phát triển” chứ chưa phải là “cường quốc”.

Lo ngại cho Mỹ

Mở đầu cuộc phỏng vấn, ông Ôn, 66 tuổi, nhã nhặn nói với nhà báo Mỹ rằng ông thích có đối thoại hơn là độc thoại dông dài.

“Anh luôn có thể ngắt lời tôi và đặt câu hỏi. Như thế sẽ khiến đối thoại của chúng ta sinh động hơn,” Thủ tướng Trung Quốc nói.

CNN dành phần đầu cuộc phỏng vấn để hỏi về khủng hoảng kinh tế Mỹ hiện thời, và theo ông Ôn, “nếu hệ thống tài chính kinh tế Mỹ gặp nạn, sẽ có ảnh hưởng… cho cả Trung Quốc, châu Á và thế giới”.

Trung Quốc hiện là chủ nợ lớn nhất của Mỹ – theo một số nghiên cứu, nước này nắm tới gần 1000 tỉ đôla hối phiếu của Bộ Tài chính Mỹ.

Fareed Zakaria, cũng là chủ bút của tạp chí Newsweek International, yêu cầu Thủ tướng Trung Quốc bảo đảm Bắc Kinh sẽ không dùng số tài sản này làm “vũ khí” uy hiếp Mỹ.

Ông Ôn trấn an rằng nước ông hy vọng Mỹ sẽ bình ổn được nền kinh tế.

Ông nói thêm: “Dĩ nhiên, chúng tôi lo ngại cho an toàn của đồng tiền Trung Quốc tại đây. Nhưng chúng tôi tin Mỹ là một nước đáng tin, và vào những lúc khó khăn, Trung Quốc đã hợp tác với Mỹ.”

‘Chưa phải là cường quốc’

Nhà báo Mỹ lại hỏi xoáy vào cáo buộc Trung Quốc không chịu tích cực để giải quyết các vấn đề quốc tế như Darfur hay tham vọng hạt nhân của Iran.

Ông Ôn Gia Bảo, người xuất hiện trên truyền thông thường xuyên hơn Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào, trả lời:

“Trung Quốc chưa phải là một siêu cường… Trung Quốc vẫn gặp vấn đề phát triển bất cân đối giữa các vùng, và giữa thành thị với nông thôn. Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển.”

Trung Quốc vẫn gặp vấn đề phát triển bất cân đối giữa các vùng, và giữa thành thị với nông thôn
Thủ tướng Ôn Gia Bảo

Ông nói Trung Quốc hiện phải tập trung nỗ lực để cải thiện cuộc sống của người dân trong nước.

Nhưng chính phủ của ông có thể gây sức ép với chính phủ Sudan, Iran hay Miến Điện?

Thủ tướng Trung Quốc không đề cập thẳng đến cái tên Miến Điện, nhưng nhấn mạnh Trung Quốc thuộc số những nước đầu tiên gửi lính gìn giữ hòa bình tới Darfur của Sudan.

Ông khẳng định không ủng hộ Iran có vũ khí hạt nhân, nhưng nhắc lại phải dùng đối thoại hòa bình để đạt mục tiêu chứ không đe dọa vũ lực.

Ông Ôn có vẻ tự hào xem vấn đề Bắc Hàn là một thành tựu ngoại giao của Trung Quốc.

“Vẫn cần thời gian để tìm giải pháp trọn vẹn cho vấn đề hạt nhân Triều Tiên… Nhưng mô hình chúng tôi áp dụng, và các nỗ lực của chúng tôi, đã đi đúng hướng.”

Câu hỏi về dân chủ

Nhà báo Zakaria, lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Harvard, đã viết nhiều sách về quan hệ quốc tế. Tác phẩm mới nhất của ông là cuốn The Post-American World, trong đó cho rằng vai trò tương lai của Mỹ sẽ giảm, và “phần còn lại của thế giới” sẽ lớn mạnh.

Đạt Lai Lạt Ma
Trung Quốc không chấp nhận lời nói về “tự trị” của Đạt Lai Lạt Ma

Ông hỏi vì sao Trung Quốc vẫn không chịu thương lượng trực tiếp với Đạt Lai Lạt Ma trong khi ông này có vẻ đã chấp nhận sự cai trị của Trung Quốc ở Tây Tạng nếu có sự tự trị văn hóa và chính trị.

Thủ tướng Trung Quốc vẫn nhắc lại cáo buộc mục tiêu của chính phủ Tây Tạng lưu vong là “ly khai Tây Tạng khỏi Trung Quốc”.

Ông nói: “Chừng nào Đạt Lai Lạt Ma sẵn lòng thừa nhận Tây Tạng là phần không thể tách rời của Trung Quốc và từ bỏ hoạt động ly khai, chúng tôi sẵn sàng có liên lạc và đàm phán với ông ta hoặc đại diện của ông ta.”

Thủ tướng Trung Quốc thừa nhận có “một số hạn chế hợp lý” đối với internet, nhưng nói đây là vì “an toàn cho đất nước và cho tự do của đa số người dân”.

Một chi tiết thú vị về ông Ôn Gia Bảo là việc ông từng làm thư ký cho ba đời tổng bí thư: Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương và Giang Trạch Dân.

Trong cuộc biểu tình của sinh viên năm 1989, ông tháp tùng Triệu Tử Dương ra gặp người phản đối ở Quảng trường Thiên An Môn, hai tuần trước khi xe tăng tiến vào cán nát thây nhiều người.

Khác với số phận người thầy Triệu Tử Dương, bị quản thúc đến chết, ông Ôn tiếp tục leo cao để trở thành thủ tướng năm 2002.

Nhà báo Fareed Zakaria hỏi ông rút ra bài học gì sau “vấn đề” Thiên An Môn.

Ông Bảo dừng lại vài giây trước khi trả lời: “Tôi nghĩ cốt lõi câu hỏi của anh là về sự phát triển dân chủ ở Trung Quốc”.

Điều này, ông nói, bao quát ba lĩnh vực: “Chúng tôi cần dần dần cải thiện hệ thống bầu cử dân chủ để quyền lực nhà nước sẽ thực sự thuộc về dân và được dùng để phục vụ nhân dân.”

Chúng tôi cần dần dần cải thiện hệ thống bầu cử dân chủ để quyền lực nhà nước sẽ thực sự thuộc về dân
Thủ tướng Ôn Gia Bảo

“Thứ hai, hệ thống luật pháp cần được cải thiện và đất nước được cai trị bằng luật pháp. Chúng tôi cần xây dựng hệ thống tư pháp độc lập và công bằng.”

“Thứ ba, chính phủ cần chịu sự giám sát của nhân dân, buộc chúng tôi tăng sự minh bạch, và chính phủ cũng phải chịu sự giám sát của truyền thông và các đảng phái khác.”

Nhưng giống như nhiều lần phát biểu trước đây, ông Ôn nói có “nhiều hình thức dân chủ trên thế giới.”

“Chủ nghĩa xã hội như tôi hiểu là hệ thống dân chủ. Không có dân chủ, không có chủ nghĩa xã hội,” Thủ tướng Trung Quốc kết luận.

  • Theo BBC (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2008/09/080930_wen_jiabao_interview.shtml)

96% doanh nghiệp VN ‘dính’ tham nhũng

September 26, 2008

Đây là kết quả chương trình Khảo sát Gian lận trên toàn cầu năm 2008, được công ty kiểm toán hàng đầu thế giới Ernst & Young công bố hôm nay tại Hà Nội. Lần đầu, Ernst & Young đưa Việt Nam vào chương trình khảo sát.

Ông Rob Morris, trưởng bộ phận Dịch vụ Điều tra gian lận và giải quyết tranh chấp của Ernst & Young khu vực châu Á Thái Bình Dương khẳng định: “Hai năm qua, tham nhũng ở Việt Nam khá cao”.

Công bố của Ernst & Young cho thấy, 96% doanh nghiệp Việt Nam được phỏng vấn từng có liên quan đến việc hối lộ hay tham nhũng trong vòng 2 năm trở lại đây. Tỷ lệ này gần gấp đôi mức trung bình của khu vực châu Á Thái Bình Dương (56%), gấp gần 4 lần mức trung bình toàn cầu (24%) và cao hơn rất nhiều lần so với một số nước trong khu vực được khảo sát như Singapore (7%), Malaysia (16%), Philippinné (17%), Trung Quốc (81%).

60% doanh nghiệp VN được phỏng vấn thừa nhận, từng bị yêu cầu đưa hối lộ để có được hoặc tiếp tục được nhận các hợp đồng kinh doanh. Ảnh minh họa.

60% doanh nghiệp Việt Nam được phỏng vấn cũng thừa nhận  từng bị yêu cầu đưa hối lộ để có được hoặc tiếp tục được nhận các hợp đồng kinh doanh. Tỷ lệ này ở Việt Nam ngang với Hàn Quốc và cao hơn so với mức 23% trung bình toàn cầu. Trong khi đó, có đến 48% doanh nghiệp Việt Nam cũng cho biết, từng bị mất hợp đồng vào tay đối thủ cạnh tranh chỉ vì không chịu đưa hối lộ.

Kết quả khảo sát của Ernst & Young cũng cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp tuân thủ quy định pháp luật ở Việt Nam rất thấp, chỉ 24% so với mức trung bình toàn cầu là 40% (Trung Quốc 35%, Hàn Quốc 60%, Singapore 85%).

Theo ông Rob Morris, vai trò của kiểm toán nội bộ trong phát hiện tham nhũng ở Việt Nam chưa được chú trọng. Chỉ chưa đầy 20% doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ kiểm toán nội bộ, trong khi đây là hoạt động được các quốc gia khác rất coi trọng nhằm đo mức độ minh bạch tài chính.

Ngoài ra, có đến 88% doanh nghiệp Việt Nam không hề biết đến Luật chống tham nhũng nước ngoài (còn được gọi là FCPA – Luật chống tham nhũng của Mỹ). Đáng chú ý, đây được coi là chuẩn mực quốc tế cho khung pháp lý chống tham nhũng trên phạm vi toàn cầu.

Khảo sát gian lận trên toàn cầu lần thứ 10 (chu kỳ 2 năm) được Ernst & Young tiến hành tại 33 quốc gia năm 2008. Báo cáo tập trung vào hành vi tham nhũng và hối lộ, khả năng kiểm soát gian lận của các công ty. Để đưa ra kết quả khách quan nhất, Ersnt & Young tiến hành 1.186 cuộc phỏng vấn tới lãnh đạo cấp cao của nhiều doanh nghiệp tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Ernst & Young thực hiện 25 cuộc phỏng vấn.

  • Lam Thanh

Tham vọng đại dương của Trung Quốc

September 26, 2008

Bài “Tham vọng đại dương của Trung Quốc” đăng trên website RFA Việt ngữ có đoạn nói về việc Đô đốc Trịnh Hòa cách nay 600 năm đã đem một hạm đội hùng hậu nhất thế giới thời ấy đi thám sát các đại dương bên ngoài lãnh hải Trung Quốc.

Điều này chứng tỏ Trung Quốc từng có người đi biển tài ba, nhưng vì sao lại bỏ quên sức mạnh hải quân để đến nỗi bị ngoại quốc phương xa xâm lăng, xâu xé?

Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, cũng là nhà nghiên cứu sâu rộng về lịch sử, văn hóa, chính trị Trung Quốc, có thể đưa ra một giải thích về câu hỏi đó vì liên quan đến Việt Nam và các anh hùng dân tộc Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Giữa bối cảnh Trung Quốc nối lại giấc mộng bá chủ đại dương khi xưa, chuyện xưa khiến ta nhớ tới chuyện nay qua phần trao đổi của Việt-Long với ông Nguyễn Xuân Nghĩa sau đây.

Mộng bá chủ đại dương

Việt Long: Trước hết, thưa ông, bảy chuyến hải hành của Đô đốc Trịnh Hoà thời Minh bên Tàu là như thế nào. Mục tiêu
và kết quả ra sao, mà vì sao lại chấm dứt?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về đại thể, Trung Quốc lỡ hẹn với lịch sử chừng 600 năm, nay đang nối lại giấc mơ xưa là trở thành đại cường hải dương thay vì chỉ là đại cường lục địa như trong mấy ngàn năm lịch sử của họ.

Và thứ hai, cái hẹn ấy lại có thể bước qua đầu Việt Nam vì nơi duy nhất Trung Quốc có thể bành trướng được, do địa dư hình thể, chính là Việt Nam. Trong tinh thần ấy, ta nên nhìn lại chuyện Trịnh Hoà và yếu tố Việt Nam khiến Âu Châu chứ không phải Trung Quốc đã thành bá chủ hải dương. Đây là một câu chuyện rất ly kỳ mà cũng là thời sự.

Việt Long: Ông cho rằng chính Việt Nam đã cắt đứt giấc mộng bá chủ hải dương của Trung Quốc vào sáu thế kỷ trước, ông có thể chứng minh điều đó?

- Thưa đúng là Việt Nam có góp phần cho tai nạn lịch sử ấy của Trung Quốc. Muốn thấy rõ, ta nên nhắc lại lịch sử của hai nước hơn 600 năm trước. Thời ấy, Chu Nguyên Chương vừa chấm nhà Nguyên Mông và lập nên nhà Minh vào năm 1368, dưới tên Minh Thái tổ, niên hiệu Hồng Võ và trị vì đến năm 1398. Năm đó cũng là khi Hồ Quý Ly nắm quyền nhiếp chính và kết thúc nhà Trần.

Tại Trung Quốc, Minh Thái tổ truyền ngôi cho cháu nội là Chu Doãn Văn, làm vua đến 1402, niên hiệu là Kiến Văn. Nhưng người con thứ tư của Minh Thái tổ là Chu Lệ hay Chu Đệ đã cướp ngôi của cháu.  Ông là Minh Thành tổ, lập ra thời Vĩnh Lạc từ 1402 đến 1424, và là người quyết định tấn công Việt Nam, tiêu diệt nhà Hồ vào năm 1407 khiến Việt Nam bị 10 năm Minh thuộc.

Nhưng, khi cướp ngôi mà không chắc người cháu là vua Kiến Văn đã chết hay chưa, lại nghe đồn rằng Kiến Văn đã trốn xuống Đông Nam Á, Minh Thành tổ mới sai Tam Bảo Thái giám Trịnh Hoà làm Đô đốc giong thuyền ra biển để xuống Đông Nam Á nghe ngóng tình hình. Đây là một trong nhiều lý do khiến vị Đô đốc người Hồi tên là Mã Tam Bảo đóng tầu ra khơi, lần đầu vào năm 1405. Năm đó, Nguyễn Trãi của ta mới 25 tuổi và ông Đô đốc này 34 tuổi.

Việt Long: Ông có thể nói thêm đôi chút vì lý lịch của ông Đô đốc Thái giám này không?

Các “bảo thuyền” của ông ta, có từ sáu đến tám cột buồm, có thể dài gấp đôi và có sức trọng tải gấp sáu các hải thuyền của Columbus ra khơi vào năm 1492.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Ông ta là người Hồi giáo, tổ tiên xuất phát từ xứ Uzbekistan ngày nay, đã sống nhiều đời tại Vân Nam. Mã Tam Bảo là tên phiên âm từ Hồi giáo của Mahmud Shams.

Khi Chu Nguyên Chương tiêu diệt tàn dư Nguyên Mông tại Vân Nam vào năm 1381 thì Mã Tam Bảo bị bắt và bị thiến năm 11 tuổi, nhưng được Chu Lệ Vương là Minh Thành tổ sau này yêu quý mà đem về nuôi và cho đi học. Thái giám Mã Tam Bảo có công giúp Lệ Vương cướp ngôi của cháu, được vua ban tên Trịnh Hoà.

Mã Tam Bảo là người Hồi giáo, mà cha và ông đã từng hành hương tại Thánh địa Mecca tại xứ Saudi Arabia ngày nay, nên khá am hiểu về địa dư, địa đồ và lập ra căn cứ hải quân công xưởng gọi là Đông Xưởng để đóng tầu viễn duyên. Các “bảo thuyền” của ông ta, có từ sáu đến tám cột buồm, có thể dài gấp đôi và có sức trọng tải gấp sáu các hải thuyền của Columbus ra khơi vào năm 1492.

Việt Long: Bảy chuyến hải hành của Đô đốc Trịnh Hoà ngoài mục đích truy tìm vua Kiến Văn còn có mục tiêu gì khác?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chính yếu là phô trường đức sáng của Thiên tử nhà Minh qua việc trao đổi tặng vật với các nước gần xa, chứ chưa hẳn là thương mại hay bành trướng quân sự như Âu Châu sau này. Đây là khía cạnh khoa trương của nền văn minh Trung Hoa

Giấc mơ không thành

Việt Long: Thế vì sao những chuyến hải hành đầy hứa hẹn đó lại bị huỷ bỏ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Minh Thành tổ mất, con trai là Chu Cao Sí ở ngôi có một năm, cháu nội là Chu Chiêm Cơ lên ngôi từ năm 1425 với niên hiệu là Tuyên Đức. Các văn từ của Nguyễn Trãi trong “Quân trung Từ mệnh tập” gọi vị vua này là “thằng nhãi ranh Tuyên Đức”!

Hai năm sau thì 10 năm kháng chiến của ta kết thúc, năm 1427, khi Liễu Thăng bị chém bay đầu ở Lạng Sơn làm đại quân nhà Minh dưới quyền Vương Thông bị vây tại Đông Quan, tức là Thăng Long, đành phải đầu hàng.

Nhìn lại lịch sử nhà Minh, ta thấy triều đại Tuyên Đức bị khủng hoảng ở hai khía cạnh an ninh và kinh tế. Về an ninh, nhà Minh vẫn bị các bộ tộc Mông Cổ tấn công ở phương Bắc và tăng cường xây dựng Vạn lý Trường thành mà ta thấy ngày nay.

Con trưởng của Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng có góp phần kỹ thuật cho việc chống lại quân Mông Cổ bằng cách cải tiến súng thần công. Hình như sau này ông lên tới chức vụ ngang hàng Thứ trưởng Quốc phòng là nhờ tài năng đó!

Minh Tuyên Đức ra lệnh cấm đóng tầu viễn duyên, không ai được có tầu có quá ba cột buồm. Từ cái lệnh gọi là “hải cấm” ấy, Trung Quốc nhường Đông hải cho… hải tặc, cho Nụy khấu, tức “giặc lùn” ám chỉ người Nhật,

Mặt khác, bị thất trận đầy tốn kém ở phương Nam dưới tay Lê Lợi, nhà Minh lâm vào khủng hoảng kinh tế. Các Nho thần bảo thủ thời ấy bèn viện dẫn lời đức Thánh Khổng là “cha mẹ còn tại thế mà mình đi xa thì là bất hiếu!” mà nói rằng chẳng có lý do gì khiến ta phải bành trướng ra ngoài, mà giong buồm ra biển!

Yếu tố chính là ý thức hệ, lồng bên dưới là an ninh và kinh tế mà cuộc kháng chiến của Việt Nam có góp phần đáng kể.

Kết cục, sau khi Trịnh Hoà qua đời và được thủy táng trong chuyến hải hành thứ bảy, Minh Tuyên Đức ra lệnh cấm đóng tầu viễn duyên, không ai được có tầu có quá ba cột buồm. Từ cái lệnh gọi là “hải cấm” ấy, Trung Quốc nhường Đông hải cho… hải tặc, cho Nụy khấu, tức “giặc lùn” ám chỉ người Nhật, và đấy là lúc xuất hiện loại người như Từ Hải, một tay cướp biển mà đòi vạch đôi sơn hà với nhà Minh Gia Tĩnh!

Tổng kết lại, từ giữa thế kỷ 15 trở đi Trung Quốc bế môn tỏa cảng và thu vét phương tiện phòng thủ để chỉ là cường quốc lục địa. Giấc mơ toàn cầu hoá của Trịnh Hoà coi như tan thành bọt biển và vài chục năm sau, Columbus xuất hiện cùng các nhà hải hành khác của Âu Châu làm thay đổi bộ mặt thế giới!…

  • Việt Long thực hiện

Việt Nam ‘tham nhũng hơn Trung Quốc’

September 24, 2008
Hình minh họa
Tham nhũng được đánh giá là thách thức ở châu Á

Bảng đánh giá mức độ tham nhũng mới nhất của tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Việt Nam đứng thứ 121 / 180, thứ hạng gần như không đổi so với năm 2007.

Tại châu Á, Chỉ số Nhận thức Tham nhũng 2008 đánh giá 32 nước, và Việt Nam xếp thứ 20, với 2.7 điểm.

Trung Quốc đại lục xếp thứ 12 trong vùng, và đứng thứ 72 trên toàn cầu, với 3.6 điểm.

Anh quốc xếp thứ 16, trong khi Hoa Kỳ xếp thứ 18 ngang với Nhật.

Đánh giá

Năm nay ba nước – Đan Mạch, New Zealand và Thụy Điển – cùng xếp thứ nhất, với 9.3 điểm.

Trong nhóm Top 10, Singapore xếp thứ tư, tiếp theo là Phần Lan, Thụy Sĩ, Iceland, Hà Lan, Úc, Canada và Luxembourg.

10 nước xếp đầu châu Á
New Zealand
Singapore
Australia
Hong Kong
Nhật Bản
Đài Loan
Nam Hàn
Macao
Bhutan
Malaysia

Chỉ số năm ngoái, đánh giá 179 quốc gia, xếp Việt Nam đứng thứ 123, với 2.6 điểm.

Tính theo thời gian, điều tra mức độ tham nhũng của quan chức dưới dạng chỉ số nhận thức tham nhũng này đã đặt Việt Nam cao hơn một chút.

Năm 2005, Việt Nam chỉ đạt 2.4 điểm, sau đó tăng 0.2 điểm (2.6) vào năm 2006.

Nói chung về châu Á, Minh bạch Quốc tế năm nay ghi nhận trong 32 quốc gia, có tới 22 nước bị điểm dưới 5.

Nam Hàn và Tonga có điểm cao hơn hẳn so với năm trước, chứng tỏ giới chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng đã có cải thiện trong hành vi của viên chức.

Nhưng Hong Kong, Macao, Maldvies và Timor lại bị đánh giá thấp hơn trước.

Năm nước xếp chót tại châu Á là Lào, Papua New Guinea, Campuchia, Afghanistan và Miến Điện.

Miến Điện cũng bị xếp áp chót trên tổng số 180 quốc gia, chỉ trên Somalia.

Minh bạch Quốc tế, có trụ sở ở Berlin, ghi nhận trong số các nước giảm điểm đáng kể so với 2007 có Bulgaria, Burundi, Phần Lan, Pháp, Italy, Macao, Maldvies, Na Uy, Bồ Đào Nha, Somalia, Timor và Anh quốc.

Chỉ số thường niên này tập trung vào tham nhũng trong khu vực công và định nghĩa tham nhũng là sự lạm dụng quyền chức để tư lợi.

  • Theo BBC

Tham vọng hải quân của Trung Quốc

September 24, 2008

Năm trăm năm trước, kình địch rõ rệt thống trị các đại dương trên thế giới là hải đội thám hiểm của đế quốc Trung Hoa với hàng nhiều thế kỷ vượt trội mặt kỹ thuật so với mọi đối thủ. Nhưng hoàng đế Trung Quốc quyết định quay lưng với biển cả. Người Trung Quốc sẽ không phạm vào lỗi lầm ấy hai lần.
Photobucket
Năm 2006, truyền hình trung ương Trung Quốc trình chiếu một loạt tài liệu, Daguo Jueqi (1) (Đại quốc quật khởi, Sự xuất hiện của những quyền lực vĩ đại) được kể như thành công ngay tức khắc. Nó bao gồm những cuộc phỏng vấn với các sử gia, các lãnh đạo thế giới và được đánh giá là chính xác đủ để được đem vào kênh Lịch Sử (History Channel) chiếu trên khắp nước Mỹ. Mười hai màn, mỗi màn dài 50 phút cắt nghĩa các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hòa Lan, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Nga và Mỹ phát khởi, lớn mạnh và suy tàn. Người chịu trách nhiệm chương trình, giáo sư trường đại học Bắc Kinh, ông Tiền Thừa Đán (Qian Chengdan) hiểu khát vọng quần chúng trong đất nước ông: Vì Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc, giống nòi Trung Quốc đã được hồi sinh và một lần nữa trên sân khấu thế giới (2).
Đại quốc quật khởi nhìn vào các thắng lợi trên mặt biển của các thế lực chính trong nỗ lực thống trị thế giới. Bất kể dân số hay tầm vóc lãnh thổ của nước phát khởi, chiến lược của họ luôn là mở rộng ngoại giao, kiểm soát những thủy đạo chính yếu và những căn cứ ngoài khơi, am tường kỹ thuật, hoạt động hải quân và gieo ảnh hưởng. Những điều này là những ưu tiên mới của chính phủ Trung Quốc, đặt kế hoạch Kỹ Thuật Cao ngành Hàng Hải năm 2000 song song với sự lớn mạnh của Hải Quân Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Liberation Army Navy – PLAN).

Thực dụng chủ nghĩa và Ngoại Giao

Tài liệu chia ra nhiều thập niên về ý thức hệ đảng Cộng Sản Trung Quốc và tiết lộ chủ nghĩa thực dụng hiện tại của Trung Quốc, nhằm tránh sự mù quáng đầy ngạo mạn của thời kỳ yếu nhược thế kỷ 19. Để ảnh hưởng thế giới trong cung cách thuận hòa (harmonious and peaceful, hai từ chính dùng trong chính sách hiện tại), để mở rộng Trung Quốc cho thế giới, cũng như thế giới với Trung Quốc – dường như là niềm tin hiện tại của Hồ Cẩm Đào. Trong một nỗ lực vô tiền khoáng hậu về ngoại giao hải quân năm 2007, các tàu chiến Trung Quốc viếng thăm các hải cảng Pháp, Úc, Nhật, Tân Gia Ba, Tây Ban Nha, Mỹ và tham gia các cuộc thao diễn đa quốc gia chống hải tặc.

Tham vọng “quyền lực nhung” (soft-power ambitions) của Trung Quốc nên đặt trong quan điểm tập trung vào bối cảnh khu vực. Cũng có hai vấn đề chính. Một là quan tâm của Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với Đài Loan và phạm vi hải phận Trung Quốc trong khu đặc miễn kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ). Nếu Trung Quốc được thỏa mãn những tham vọng của họ, họ sẽ được tiếp cận những vùng bao la ở Thái Bình Dương và những thủy đạo Đông Nam Á bên ngoài vùng bán đảo Đông Dương. Quan tâm thứ hai là bây giờ Trung Quốc đã trở nên quốc gia nhập cảng nhiên liệu đứng hàng thứ nhì trên thế giới, là sự bảo vệ hành lang nhiên liệu của họ. Vấn đề lãnh thổ sẽ là yếu tố quyết định cho hiện tại. Bắc Kinh đã thành công trong vấn đề xác định biên giới với 13 nước lân cận một cách hữu nghị (3). Chỉ có 2 nước công khai chống đối là Bhutan và Ấn Độ. Nhưng theo ông Loic Frouart, Uỷ viên chiến lược vụ Bộ Quốc Phòng Pháp, “14.500 cây số biên giới lãnh hải phô bày nhiều tiềm ẩn khủng hoảng hay va chạm quyền lợi. Có nhiều xung đột chưa giải quyết” (4). Trung Quốc đòi chủ quyền hoàn toàn trên 4 triệu cây số vuông lãnh hải.

Photobucket

Nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ tái chiếm Đài Loan bằng võ lực nếu cần thiết. Đây vẫn còn là lập trường chính thức mặc dầu cuộc tuyển cử tổng thống ở Đài Loan, ứng viên đảng Quốc Dân, ông Mã Anh Cửu (Ma Ying Jeou) đã làm dịu căng thẳng giữa hai bên eo biển. Cùng với sự trổi dậy mau chóng của hải quân Trung Quốc và sự tiết giảm một cách tương đối tính theo trọng tải của hải quân Mỹ, Trung Quốc đang vận dụng các phương tiện tâm lý cũng như quân sự để đi kèm theo sự phát triển dẫn đến việc sát nhập Đài Loan một cách hòa bình. Điều này vừa là thuyết phục lẫn chiêu dụ. Hỏa tiễn nhắm vào đảo quốc và thái độ của Mỹ với Đài Loan, ngăn cản Đài Loan tuyên bố độc lập, trong khi sự lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa Đài Loan và Hoa Lục đang chuẩn bị tinh thần cho công dân một chuyển tiếp Hồng Kông có thể xẩy ra.

Tuy nhiên, Đài Loan không chỉ là quân cờ trong ván cờ vĩ đại vùng biển của Trung Quốc. Trung Quốc cũng đang xung đột với Nhật trong quần đảo Điếu Ngư (Diaoyu tiếng Trung Hoa, Nhật gọi là Sensaku) gần đảo Xung Thằng (Okinawa), nơi có một căn cứ hải quân Mỹ. Đông Kinh cả quyết rằng vùng đặc miễn kinh tế (EEZ, Exclusive Economic Zone) của họ trải dài 450 cây số về hướng Tây quần đảo, trong khi Bắc Kinh ganh đua bằng cách tuyên bố chủ quyền toàn lục địa từ lãnh thổ của họ vươn ra đến biển Đông Hải. Nó không phải điều ngẫu nhiên mà khu vực này chứa một tiềm năng 200 tỉ mét khối hơi đốt. Trung Quốc cũng xung đột với Đài Loan, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei và Nam Dương về quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) và quần đảo Đông Sa (Pratas); tranh giành quần đảo Hoàng Sa (Paracel, Trung Quốc gọi là Tây Sa) với Việt Nam và Đài Loan. Trung Quốc cũng tranh giành hải phận với Nhật và Việt Nam cũng như chỉ tiêu đánh cá với Nam Hàn, Nhật, Việt Nam và Phi Luật Tân.

Tham vọng hải quân với chiến lược trường kỳ

Chúng ta có khuynh hướng quân rằng Trung Quốc luôn sinh động trong khu vực. Thập niên 1950 hải quân Trung Quốc chiếm lại hầu hết những hòn đảo cận duyên của Tưởng Giới Thạch. Năm 1974 họ lợi dụng chiến tranh giữa hai miền Việt Nam để chiếm đoạt Hoàng Sa và năm 1988 chiếm đoạt hòn đảo Chữ Thập, nằm phía Nam đảo Nam Yết (Fiery Cross reef ) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tất cả các nước trong khu vực, một thời là chư hầu của đế quốc Trung Hoa, đều e sợ tham vọng hải quân Bắc Kinh.

Năm 1980, điểm quan trọng chiến lược của đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing) (5) trước tiềm năng dầu mỏ và đánh cá ở Nam Hải là bảo đảm sự vãng lai cho hạm đội Trung Quốc. Trung Quốc cần áp đặt sự hiện diện của họ về phía Tây của một thủy đạo xanh lục (green sea line) từ Nhật đến Mã Lai qua Đài Loan và Phi Luật Tân. Kình địch chính là hải quân Nhật mà Trung Quốc đã thăm dò bằng những thâm nhập tiềm thủy đĩnh (gồm cả một vụ với tiềm thủy đĩnh nguyên tử năm 2004).

Bây giờ Bắc Kinh định chọc thủng đường ranh này và xuyên qua vùng nước cạn ở Đông và Nam Hải vào vùng thủy đạo xanh dương (blue water line) của một vịnh thứ nhì từ Nhật tới Nam Dương qua Guam, trục hải, không lực Mỹ trong vùng Tây Thái Bình Dương. Trở ngại chính cho kế hoạch bành trướng của hải quân Trung Quốc tới thủy đạo xanh dương (Hạm đội 7 Mỹ kiểm soát) chính là Đài Loan. Tháng Giêng năm 2008 bộ trưởng quốc phòng Đài Loan, ông Ko Chen Heng, lên án các hoạt động hải quân Trung Quốc trong kênh Bashi, một thông thủy hẹp giữa Đài Loan và Phi Luật Tân.

Một khi Trung Quốc giải quyết xong vấn đề tiếp cận ngoài khơi, hải quân sẽ có thể dành thì giờ để bảo đảm 4 hành lang năng lượng ở Đông Nam Á. Hành lang thứ nhất gồm những tàu dầu dưới 100 ngàn tấn từ Phi Châu và Trung Đông đến Nam Hải qua eo biển Malacca. Hành lang thứ nhì là những tàu dầu khổng lồ từ cùng những nơi sản xuất trên qua Sundra và eo biển Gaspar (6), và hành lang thứ ba từ Nam Mỹ qua biển Phi Luật Tân. Hành lang thứ tư là một đường tùy chọn từ Trung Đông và Phi Châu giửa eo biển Lombok và Macassar, Phi Luật Tân và Tây Thái Bình Dương trước khi đến cảng Trung Quốc. Malacca là nút thắt chính với 80 phần trăm nhiên liệu nhập cảng băng qua eo biển, khiến Trung Quốc có thể bị nghẽn trong xung đột. Nó chuyển hướng tiếp cận bằng cách phát triển hệ thống đường rầy nối các nước thuộc Hiệp Hội các quốc gia Á Châu (ASEAN, Association of Southeast Asian Nations), kết thúc đường ống dẫn dầu Hoa-Miến giữa Sittwe và Côn Minh (7), giúp việc phát triển năng lực sản xuất khí đốt ngoài khơi trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt ở Thái Lan và Miến Điện, và ngay cả việc dự trù xây dựng một kinh đào ngang qua giải đất Kra Nam Thái Lan, nơi bị bọn ly khai Hồi Giáo Thái Lan đe dọa.

Chiến lược xâu chuỗi ngọc

Những dự án này khó và sẽ chỉ giảm bớt phần nào sự lệ thuộc của Trung Quốc vào các hành lang. Sự cần thiết đảm bảo chúng chống lại hải tặc và tham vọng của Mỹ, Nhật, Ấn Độ khiến Trung Quốc phải củng cố chiến lược hải quân viễn duyên của họ. Bắc Kinh đang xây dựng một “chuỗi ngọc trai” gồm những căn cứ vĩnh viễn dọc theo bờ biển Ấn Độ Dương và các thủy đạo dẫn đến Malacca: Marao ở Maldives, quần đảo Coco ở Miến Điện, Chittagong ở Bangladesh và Gwadar ở Pakistan, trong khi chờ để xây dựng thêm các căn cứ bờ biển ở Phi Châu, đang sẵn sàng ký kết đầu tư với Trung Quốc. Trung Quốc không thiếu công nhân hay ngân sách để tổ chức và bảo trì các căn cứ trong các nước đồng minh. Họ còn dám tặng không tàu chiến cho nước nào bảo vệ nhiên liệu ngoài khơi của họ (8).

Không kể Mỹ, kẻ tin rằng Thái Bình Dương sẽ là một khu vực chiến lược chính trong bán thế kỷ tới, Trung Quốc có hai địch thủ đáng gờm: Ấn Độ và Nhật. Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia lớn nhất về dân số, luôn lo ngại lẫn nhau – Không phải là ít theo quan điểm Ấn Độ, bởi vì Trung Quốc ủng hộ Pakistan trong vấn đề phiến loạn Kashmir và tiếp tục cung cấp vũ khí cho Islamabad. Ấn Độ mong muốn vị thế của Trung Quốc (một cường quốc khu vực với một khuynh hướng toàn cầu) và có tham vọng hàng hải để đối chọi. hạm đội của Ấn Độ đang phát triển và mục tiêu chiến lược đề ra là làm chủ Ấn Độ Dương. Chiến lược chuỗi ngọc của Bắc Kinh là một sự xâm lấn.

Để đặt cược vào chiếu bạc, Ấn Độ chế tạo hai mẫu hạm, sẽ hạ thủy năm 2010, chiếc thứ ba đang trù tính mua lại mẫu hạm cũ của Nga. Hạm đội tiềm thủy đĩnh của Ấn Độ dùng kỹ thuật Pháp trội hơn của Trung Quốc về phẩm chất. Hai nước đang trong giai đoạn dò xét lẫn nhau và cẩn trọng tránh xung đột. Có những tiến bộ ngoại giao giữa hai lực lượng hải quân và thao diễn quân sự phối hợp từ khi hai nước ký kết một hiệp ước chung vào tháng Tư năm 2005.

Bang giao giữa Nhật và Trung Quốc đã qua thời kỳ căng thẳng. Hạm đội Nhật mạnh và tân tiến hơn Trung Quốc và đã tham dự thao diễn quân sự với hải quân Mỹ nhiều năm. Nhưng tranh chấp trên quần đảo Điếu Ngư tiết lộ một nước mất bình tĩnh, gây cản trở bởi hiến pháp hòa bình thời hậu thế chiến, hiện bị những phe nhóm quốc gia chủ nghĩa phê phán. Nhật chưa có biện pháp đối phó với Trung Quốc. Không chỉ một mình Nhật và Ấn Độ lo ngại về áp lực Trung Quốc. Những nước nhỏ như Mã Lai, Nam Dương, tân Gia Ba cũng đang củng cố và hiện đại hóa hạm đội của họ. Họ sợ rằng, Mỹ đang sa lầy ở I – Rắc và A Phú Hãn, Trung Quốc sẽ nắm quyền thống trị trong khu vực và một tình thế trôi qua có lẽ trở nên rõ rệt.

Xưởng đóng tàu làm việc thâm công (overtime)

Xưởng đóng tàu Trung Quốc đang nắm bắt cơ hội và làm việc cật lực từ Hoàng Hải đến Nam Hải. Các căn cứ hải quân, bến sông, đê biển, căn cứ phòng vệ tiềm thủy đĩnh (gồm căn cứ nguyên tử Sanya trên đảo Hải nam) đang phát triển và canh tân khi kinh tế quốc gia đang kỳ nở rộ, mà nền ngoại thương của nó lệ thuộc 90/100 vào đường biển. Năm 2006 những kỹ nghệ liên quan đến biển chiếm 10/100 tổng sản lượng quốc gia và 7 trong số 20 hải cảng quan trọng nhất trên thế giới là của Trung Quốc. Nỗ lực Trung Quốc gồm cả mục tiêu quân sự lẫn dân sự. Cùng với những kiến tạo hải quân, kế hoạch kỹ thuật cao về hàng hải được tài trợ song song những dự án củng cố sự tự quản của hạm đội, như hệ thống định vị bằng vệ tinh, gọi là Bắc Đẩu (Beidou), hệ thống giám sát hàng hải và xưởng đóng tàu.

Năm 1995 Trung Quốc đứng hàng thứ ba về kỹ nghệ đóng tàu dân sự sau Nhật và Đại Hàn và đang ráo riết đuổi kịp. Với 2 tập đoàn kinh doanh khổng lồ, công ty đóng tàu Quốc Doanh và công ty Kỹ Nghệ đóng tàu Trung Quốc (China State Shipbuilding Corporation and China Shipbuilding Industry Corporation) Trung Quốc có triển vọng trở nên quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới năm 2020. Kế hoạch quốc gia Trung Quốc không phân biệt tàu quân sự hay dân sự và cả hai được đóng tại cùng một xưởng.

Thứ hạng 8 hải lực lớn nhất thế giới


Photobucket

(Source: Annuaire des Flottes de Combat, 2008 – Đơn vị tính : Ton)

Bạch thư quốc phòng thứ 5 của Trung Quốc phổ biến năm 2006 (9), cung cấp một bộ khung về tổ chức hàng hải hình thành hồi đầu thập kỷ 1990. Nó chuyển giao ưu tiên từ quân đội mà theo truyền thống là ưu tiên số một, sang Hải và Không quân. Ủy ban trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và quân ủy trung ương, hiện có nhiều sĩ quan Hải, Không Quân hơn trước (10). Năm 2007 đã có non 25/100 sĩ quan Hải, Không quân so với 14/100 năm 1992.

Không chi tiêu nào được dành dụm. Ba hạm đội Trung Quốc (Hạm Đội Đông Hải đặt chỉ huy sở ở Thượng Hải, Hạm Đội Nam Hải ở Trạm Giang và Hạm đội Bắc Hải ở Thanh Đảo), mỗi hạm đội có căn cứ hải quân với oanh tạc cơ và chiến đấu cơ cơ hữu. Nhiều hệ thống hiện đại đã được phân phối, chẳng hạn khu trục hạm phòng không Lữ Dương (Luyang) hay chiến hạm Mã An Sơn (Ma Anshan), phiên bản mới của chiến hạm Giang Vệ (Jiangwei ) thời thập kỷ 1990. Trung Quốc có hơn 500 Tuần Duyên Đỉnh ở cuối thập niên 1970 và một nửa trong số vẫn còn lưu dụng cho đến nay nhưng hạm đội viễn duyên đã tăng đến con số 60 chiến hạm (11).

Một nỗ lực đáng kể cũng đã được thực hiện trong lãnh vực chiến hạm thủy bộ với nhiều trăm tàu đang được đóng biến tham vọng chiếm đoạt Trường Sa hay Đài Loan thành hiện thực. Trục Lôi Hạm, Phóng Pháo Hạm tầm xa và những tàu dầu cũng đang được chế tạo. Không thiếu những trợ giúp ngoại quốc, từ Khinh Tốc Đỉnh Úc cho đến Khu Trục Hạm Sovremenny Nga và Tiềm Thủy Đỉnh Kilo Ý, hệ thống chiến đấu Pháp và hải pháo Hoà Lan. Trung Quốc nhập cảng, nhái mẫu, chế biến và thường thường làm kinh ngạc nước cung cấp, cải thiện những chiến cụ họ muốn. Trong vài lãnh vực như chiến cụ điện tử hay những động cơ hiệu quả nhất và hệ điều khiển chiến đấu, Trung Quốc lệ thuộc vào ngoại quốc, đặc biệt vào nguồn cung cấp từ Nga.

Vai trò chính của Tiềm Thủy Đỉnh

Tiềm thủy đỉnh đóng vai trò chính trong đồ án hàng hải toàn cầu của Trung Quốc. Mặc dầu những tin đồn dai dẳng về việc mẫu hạm tân trang Varyag mua của Nga và mẫu hạm đang chế tạo trong một xưởng đóng tàu hàng nhiều năm, Trung Quốc không có một mẫu hạm nào, và chỉ những Tiềm Thủy Đỉnh hiện đại có thể hy vọng làm nản chí hạm đội 7 Mỹ vẫn canh phòng Đài Loan từ căn cứ Hải Quân Guam, Nhật và Đại Hàn. Hạm đội Trung Quốc nổi tiếng về những Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử tốc chiến và một Tiềm Thủy Đỉnh phóng hỏa tiễn tầm xa (SLBN, Submarine Launched Ballistic Missile) có thể mang 12 đến 16 phi đạn nguyên tử với tầm xa 3500 cây số. Ngoài ra, còn có 30 Tiềm Thủy Đỉnh chạy dầu cặn và hơn 20 tàu lặn khác đang được chế tạo.

Hạm đội 7 Mỹ lo ngại về khối vũ khí này và các đô đốc đang thỉnh cầu quốc hội lẫn Tòa Bạch Ốc, viện dẫn hạm đội Tiềm Thủy Đỉnh Trung Quốc sẽ vượt trội con số chiến hạm Mỹ vào năm 2020. Những vị có ảnh hưởng, như nghị sĩ Duncan Hunter (12) mới đây đã đặt vấn đề. Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử Trung Quốc thực hiện nhiều chuyến tuần phòng hơn các năm trước. Những quan ngại này được phản ảnh trong phúc trình hằng năm của Ngũ Giác Đài về quân lực Trung Quốc (13) nhưng chúng cần được đặt trong viễn ảnh. Không ai biết năng lực của những Tiềm Thủy Đỉnh Trung Quốc và nó có thể rất tồi.

Hải quân Mỹ có 53 Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử, gấp 2 lần số lượng bất cứ quốc gia nào, cũng như có 12 trong số 15 mẫu hạm toàn thế giới và một không đoàn vô địch chuyên chống tàu ngầm. Vấn đề chót của bản phổ biến Mỹ về duyệt xét quốc phòng tứ niên (14)có phần xuống giọng và bàn thảo về hợp tác hơn là đối đầu. Tình trạng ở Nam Hải không là một cuộc chạy đua võ trang có tuyên bố nhưng một chống đối địa lý khác nhau giữa các hạm đội Ấn Độ, Mỹ, Úc, Nhật và hạm đội Pakistan, Trung Quốc.

Tham vọng hàng hải Trung Quốc là hậu quả do niềm thất vọng của một quốc gia đáng lẽ thống trị thế giới trong công cuộc toàn cầu hóa đầu tiên 500 năm về trước nhưng đã bị bọn man di mọi rợ da trắng tiếm đoạt. Trung Quốc đã am tường thiên văn về hàng hải và sử dụng la bàn, phát minh mỏ neo, in những bản đồ hàng hải, thuyền trưởng, centre-board năng động (kiến trúc dưới lườn với tấm cản giữ cho tàu khỏi lật – Lời người dịch) và có lẽ sáng chế những con tàu khổng lồ nhiều buồm với giàn kéo buồm bằng trục (15). Khoang tàu được chia thành nhiều buồng kín nước và bánh lái rời. Tất cả những thứ ấy được canh tân và hoàn hảo bởi người da trắng và thường là mối nhục của người Trung Quốc.

Triều đại nhà Minh (1358-1644), Trung Quốc bỏ dở các công cuộc chinh phục biển khơi ở thế kỷ 15 của thái giám đô đốc Trịnh Hòa với hơn 300 thương thuyền thám hiểm các đại dương (16). Đóng những chiếc tàu vượt đại dương có thể bị tử hình. Sai lầm này đã được học và vinh quang quá khứ bây giờ được nâng niu ấp ủ trở lại. Những diễn đàn chính thức cổ động sự hiện diện của Trung Quốc tại châu Phi kể câu chuyện của Mwamaka Shariff lali, một phụ nữ ở đảo Lamu, Kenya – nơi những mảnh đồ gốm thời nhà Minh được khảm vào những kiến trúc địa phương – là con cháu của các thủy thủ Trung Quốc đắm tàu trên hòn đảo trước khi Trung Quốc bỏ dở những cuộc viễn thám biển. Chị đã được tặng một học bổng ở trường đại học Trung Quốc và được mời dự lễ mừng “ngày hàng hải Trịnh Hòa” ở tỉnh Giang Tô, điểm xuất phát của hải đội đế quốc (17).
Photobucket
Mỹ đã gia tăng các phát động trao đổi và hợp tác với hải quân Nhật và Ấn Độ cũng như Trung Quốc nhằm kiểm soát sự bành trướng to lớn của các nước ấy bằng mọi cách. Nỗ lực mới nhất của Mỹ là Khởi Động Hợp Tác Hàng Hải Toàn Cầu, trong đó, mỗi đồng minh, gồm cả Trung Quốc được mời đóng góp cho một hạm đội 1000 tàu để tiểu trừ hải khấu. Thiếu tướng Dương Nghi, giám đốc trường đại học Quốc Phòng Trung Quốc về nghiên cứu chiến lược, không tin rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận đề xuất này trước khi tìm ra những động cơ thầm kín và ý đồ lâu dài của nó (18). Trung Quốc muốn ngăn cản bất cứ điều gì nhằm cướp đoạt cơ hội thứ nhì trong lịch sử để trỗi dậy như một quyền lực bá chủ hàng hải. Trung Quốc không quên cuộc chiến tranh nha phiến, cũng không quên mối nhục quân Anh đốt phá Viên Minh ngự uyển năm 1860, và sẽ không nhịn trước đe dọa hay áp chế. Họ đang dè chừng. Dù còn lâu mới có thể vượt trội hải quân Mỹ, họ được lịch sử chỉ dẫn và mỗi thành tựu hải quân mới đạt được một giá trị mang tính biểu tượng (không cụ thể). Năm 1989 chiến hạm đầu tiên Hải Quân Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Liberation Army Navy – PLAN) thăm viếng nước Mỹ là một chiến hạm huấn luyện. Chiến hạm ấy mang tên Trịnh Hòa.

  • Tác giả Olivier Zajec; Metamorph chuyển ngữ

10 PHỤ NỮ MAN RỢ NHẤT THẾ GIỚI

August 21, 2008

1/ Elizabeth Báthory, nữ bá tước vùng Trasylvania, Hungari ở thế kỷ 16, người làm cả thế giới phải kinh sợ với “kỳ tích” đã được ghi vào sách kỷ lục Guiness là người phụ nữ giết nhiều người nhất thế giới.
Elizabeth Báthory, 1560-1614 Theo ước tính, đã có hơn 600 cô gái trẻ là nạn nhân của con người khát máu này theo đúng nghĩa đen. Sinh trưởng trong một gia đình lâu đời và quyền quý bậc nhất lúc bấy giờ, Elizabeth đã sớm kế thừa dòng máu tàn ác và bệnh hoạn của dòng họ Báthory truyền thống. Dòng họ này vốn chỉ cho phép kết hôn với những người trong cùng gia tộc. Chính sự tàn ác đến ghê rợn của vị nữ bá tước này là một trong những nguồn cảm hứng cho Bram Stoker viết nên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Bá tước Dracula”. Tuy nhiên, khác với Dracula của Stoker, Elizabeth là có thật. Chồng của Elizabeth là Ferenzce Nadasdy, thủ lĩnh quân đội Hungary, một người dũng cảm nhưng cũng rất nổi tiếng bởi sự tàn bạo. Do chồng thường xuyên phải vắng nhà và cũng bởi quá nhàn rỗi trong một lâu đài rộng lớn, Elizabeth tự tìm cho mình những thú vui để khuây khoả. Một trong những thú vui mà con người này thích nhất là việc tra tấn các cô hầu của mình và biến lâu đài Csejthe thành lâu đài của tội ác. Sau khi chồng chết, cũng là lúc Elizabeth bắt đầu bước sang tuổi 40. Ả cố tìm mọi cách để che đậy những nếp nhăn đang xâm chiếm khuôn mặt mình, thế nhưng, nhan sắc vẫn ngày càng đi xuống. Rồi một hôm, do sơ ý mạnh tay khi đang chải tóc cho Elizabeth, cô người hầu đã bị một cú tát mạnh đến nỗi máu mũi văng cả lên tay của Elizabeth. Nhận thấy những vết máu trên tay sau khi lau khô để lại một làn da khác hơn so với trước, Elizabeth ra lệnh cho những thuộc hạ thân tín đem cô hầu gái đó treo lên trên một cái vạc lớn và… cắt mạch máu, còn Elizabeth đứng dưới và… tắm. Với quan niệm, nếu một ít là tốt, thì nhiều sẽ còn tốt hơn, càng ngày càng khát máu, có những lúc Elizabeth còn trực tiếp uống máu của những con mồi mà mình “săn” được. Sự việc chỉ bị phanh phui khi vị “Nu bá tước Dracula” này trở nên bất cẩn. Do giết hại quá nhiều người đến mức không tìm được cách giấu xác cho hiệu quả, ả ra lệnh quăng những cái xác ra khỏi bức tường bao quanh lâu đài. Mặc dù mang tội danh giết người hàng loạt, Elizabeth Báthory với tước vị và danh tiếng của gia đình chỉ bị kết án giam cầm suốt đời trong một tháp cao.

2/ KatherineMaryKnight, 1956 Katherine Mary Knight là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Australia bị kết án tù chung thân không ân xá do hành vi giết người quá dã man và tàn ác. Tháng 2 năm 2001, trong một lần cãi cọ, Knight đã “làm thịt” người yêu, John Price, bằng cách đâm ông hàng chục nhát dao, lột da và rồi nấu nhiều bộ phận trong cơ thể, bày lên các chiếc đĩa với ý định mời chính các đứa con của nạn nhân đến ăn bữa cơm “đặc biệt” này. Cảnh sát có mặt tại hiện trường hôm đó cho đến nay vẫn còn được cố vấn về tâm thần. Hiện Katherine Mary Knight đang bị giam trong một xà lim riêng biệt dành cho một kẻ giết người nổi tiếng của trại giáo dưỡng dành cho phụ nữ Mulawa ở Sydney.

3/ Irma Grese, 1923-1945 Irma Grese là một nữ giám thị khét tiếng tàn ác nhất, một hung thần trong các trại tập trung dành cho phụ nữ dưới chế độ Đức Quốc xã. Những người bị bắt vào đây hầu như đều phải “qua tay” của Grese. Ả luôn coi hành hạ thể xác, cưỡng bức tâm lý các tù nhân cho đến chết là thú tiêu khiển hàng đầu của mình. Irma thường nuôi những con chó săn lớn và bỏ đói chúng, sau đó thả vào những căn buồng giam tù nhân. Nhiều khi, Grese còn đích thân chỉ đạo bắt hàng trăm người nhốt vào phòng khí ga rồi ngồi ngắm nhìn họ quằn quại cho đến khi chết vì ngạt thở.
Hình ảnh của Irma Grese trong các trại tập trung luôn gắn liền với đôi ủng nặng, sẵn sàng giày xéo lên bất cứ kẻ nào làm ả ngứa mắt, một khẩu súng ngắn luôn bắn tuỳ ý vào những tù nhân xấu số và một chiếc roi da dùng để vụt những kẻ nào ả gặp trên đường. Tuy nhiên, sau khi Đức Quốc xã bị tiêu diệt, Irma Grese cũng đã phải đền tội. Ả bị kết án tử hình bằng hình thức treo cổ.

4/ Ilse Koch, 1906-1967 Ilse Koch nổi tiếng với cái tên “ác quỷ Buchenwald”, một nữ giám thị độc ác trong trại tập trung Buchenwald, Đức giai đoạn 1937 đến 1941. Ilse khét tiếng với thú xăm hình lên da của những tù nhân ở đây để phân loại từng người. Năm 1937, mụ đến Buchenwald với vai trò là một nữ giám thị, nhưng sau đó, trở thành vợ của viên chỉ huy trưởng trại tập trung này. Ở đó, dựa vào hơi chồng và sẵn có quyền lực trong tay, Ilse liên tục hành hạ các tù nhân bằng mọi hình thức tra tấn dã man nhất.
Năm 1940, Ilse cho xây dựng một đấu trường ngoài trời khá tốn kém mà hầu hết số tiền đều lấy từ túi của các tù nhân. Sau khi kết thúc Thế chiến thứ II, Ilse Koch bị tống giam để trả giá cho những tội ác mà mụ đã gây ra. Cuối cùng, Ilse đã tự kết thúc cuộc đời đầy tội lỗi của mình trong một phòng giam đặc biệt tại nhà tù dành cho phụ nữ có tên Aichach vào ngày 1/9/1967.

5/ Mary Ann Cotton , 1832-1873 Dường như một tuổi thơ vất vả, cơ cực và túng thiếu vì sớm mồ côi cha đã biến Mary Ann Cotton trở thành một kẻ sát nhân máu lạnh. Đã có đến 20 người phải chết dưới bàn tay lạnh lùng của người phụ nữ này. Điều đáng nói ở đây là toàn bộ nạn nhân đều là người thân như chồng, con ruột, thậm chí cả mẹ đẻ của ả. Những người này đều chết một cách đột ngột do mắc cùng một căn bệnh đau dạ dày bí hiểm mà sau này mụ khai nhận là do thạch tín.
Người chồng đầu tiên của Ann là William Mowbray, một người thợ mỏ. Chỉ sau 4 năm kết hôn, Mary Ann đã có tới 5 đứa con. Cũng chính từ đây, giữa đôi vợ chồng trẻ này bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn về tiền bạc. Thế rồi, lần lượt các thành viên trong gia đình Ann, kể cả người chồng William lần lượt thay nhau ra đi do cùng mắc căn bệnh rối loạn tiêu hoá. Sau đó, Ann chuyển đi nơi khác và đi bước nữa với kỹ sư George Ward, nhưng rồi Ward cũng chết chỉ một năm sau đó do chứng bệnh liên quan đến dạ dày. Tiếp đến là người thợ đóng tàu James Robinson cùng những đứa con riêng và con chung với Ann cũng lại tiếp tục ra đi với những dấu hiệu của bệnh dạ dày.
Khi được tin mẹ ốm, mụ trở về nhà để chăm sóc người mẹ già yếu, và rồi chỉ ít lâu sau đó chính bà mẹ này cũng đột ngột đau bụng rồi chết.

6/ Isabella xứ Castile, 1451-1504
Cuộc kết hôn giữa Isabella Đệ nhất – công chúa xứ Castile, với Ferdinand II – người kế thừa ngôi báu xứ Aragon, là nguồn gốc thống nhất xứ Castile và Aragon để hình thành nên vương quốc Tây Ban Nha hùng mạnh. Tuy nhiên, họ đã cai trị đất nước một cách độc lập.
Năm 1479, Isabella ngay lập tức bắt tay vào việc tập trung quyền hành và khởi xướng một chương trình cải cách nhằm làm giảm bớt quyền lực của giới quí tộc thường gây rối, tổ chức mới bộ máy chính quyền và khuyến khích dân chúng học hành.
Tuy có công rất lớn trong việc bảo trợ cho chuyến đi tìm vùng đất mới của Christopher Columbus, nhưng Isabella lại rất tàn bạo về mặt tôn giáo. Là người sùng đạo, Isabella đã giúp xây dựng một Toà án dị giáo tại Andalusia và đã trục xuất hơn 170.000 người Do Thái ra khỏi Tây Ban Nha. Những kẻ dị giáo cứng đầu không chịu cải đạo đều phải chịu hình phạt cao nhất là bị hỏa thiêu.

7/ Queen Mary I, 1516-1558
Thế kỷ 16 là thời kỳ khó khăn nhất của nước Anh dưới sự trị vì của Nữ hoàng Mary I, một tín đồ Gia-tô cuồng bạo. Là con gái vua Henry VIII – ông vua đa tình và tàn bạo, nổi danh vì chém đầu vợ, Mary thậm chí còn vượt xa cha mình về độ tàn ác đến nỗi dân chúng phải phong cho Mary biệt danh là “Bloody Mary”.
Sau khi trở thành Nữ hoàng, Mary kiên quyết phục hồi Gia-tô giáo và quyền lực của Giáo hoàng ở Anh quốc bất chấp mọi chỉ trích chống đối. Một trong những tội ác kinh hoàng của Nữ hoàng Mary I trong lịch sử nước Anh là lệnh thiêu sống 300 người trên giàn lửa đỏ giữa những tiếng la hét vang dội cả một góc trời.
Trong suốt thời gian nắm quyền hành, Mary thực sự đắm chìm trong thú tiêu khiển thiêu sống những ai chống đối. Ngay cả những vị chức sắc trong Giáo hội Anh như Tổng giám mục Cranmer, Nicolas Ridley, Hugh Latiner… đều cùng chung số phận, lần lượt bị Mary I ra lệnh đóng vào cột gỗ dựng giữa quảng trường và thiêu sống vì họ đã lớn tiếng chống đối những hành động ngang ngược của bà.
Sau khi kết hôn với vua Philip II – một bạo chúa nổi danh của Tây Ban Nha, Mary như cá gặp nước, học thêm được nhiều phương thức giết người mới.

Về cuối đời, Mary sống một cách âm thầm, cô độc trong tuyệt vọng và ân hận trong một lâu đài ít người thân thăm viếng và thường xuyên được nghe những lời than oán, nguyền rủa của dân chúng nói về bà. Theo nhiều lời kể lại, trước khi chết, Mary I còn quằn quại rên xiết rằng: “Ôi! Máu, máu! Máu ngập cả người ta!”.

8/ Belle Gunness, 1859-1931
Nữ sát nhân nổi tiếng nhất nước Mỹ là một phụ nữ gốc Norway to lớn như 1 dã nhân. Trong vòng chưa đầy chục năm, con số nạn nhân bị Gunness giết chết đã lên tới hơn 30 người và chủ yếu là những người thân thiết với ả, trong số đó, có hai cô con gái Myrtle và Lucy, số còn lại đều là chồng và nhân tình của Gunness. Động cơ giết người của Belle Gunness chính là những khoản tiền bảo hiểm béo bở mà các nạn nhân của ả đóng trước khi chết.

9/ Myra Hindley, 1942-2002
Được biết đến với biệt danh “Bonni và Klaid của Anh” (hai kẻ sát nhân máu lạnh trong một bộ phim cùng tên của điện ảnh Mỹ), Myra Hindley đã cùng chồng là Ian Brady tiến hành hàng loạt vụ bắt cóc, cưỡng hiếp và hành hạ dã man cho đến chết 5 trẻ vị thành niên.
Thi thể của các nạn nhân xấu số được cảnh sát địa phương tìm thấy ở khu đầm lầy ngoại ô thành phố Manchester. Không chỉ có thế, những kẻ điên loạn này còn tiến hành quay phim và chụp ảnh toàn bộ quá trình hành hình để nhấm nháp và thỏa mãn sự đau đớn đến tột cùng mà những đứa trẻ phải chịu đựng. Vụ án này đã dấy lên một làn sóng cực kỳ phẫn nộ trên toàn nước Anh bởi hành động quá dã man và vô nhân tính của Myra Hindley.
Thế nhưng, có vẻ chúng không hề biết cắn rứt lương tâm và hối hận. Ngay trước giờ tuyên án, Myra Hindley điềm tĩnh ngồi ăn kem một cách ngon lành bên cạnh người mẹ của ả đang kiệt quệ vì ô nhục và đau khổ. Trước khi toà tuyên án, Myra Hindley có vẻ bình tĩnh chờ đợi mức án cao nhất là tử hình để sớm “được tự do”, nhưng tòa án Anh chỉ tuyên phạt 2 kẻ sát nhân này mức án tù chung thân không ân xá và không có quyền được tự tử vì bản án tử hình mới được xóa bỏ cách đó 3 tháng.

Quá “thất vọng” với bản án, Ian Brady đã tuyệt thực để chết nhưng không thành, cho đến nay, hắn vẫn được duy trì sự sống bằng cách truyền nước. Còn Myra Hindley “may mắn” hơn khi bị nhồi máu cơ tim và chết sau đó ít lâu.

10/ Beverly Allitt, 1968
Beverly Allitt là y tá trong một bệnh viện nhi ở Anh, được mọi người đặt cho biệt danh “thiên thần báo tử” do những tội ác mà ả gây ra với chính những bệnh nhân bé nhỏ tội nghiệp của mình. Năm 1991, kẻ giết người hàng loạt này đã giết chết 4 bệnh nhi, đồng thời làm tổn hại nghiêm trọng sức khoẻ của 5 em bé khác.
Phương thức gây án của ả là tiêm chất insulin vào cơ thể các em bé để gây ra các cơn co giật tim liên tục rồi dẫn đến tử vong một cách tự nhiên. Beverly phải lãnh mức án 13 năm tù giam. Tuy nhiên, cho đến nay động cơ gây án thực sự của ả vẫn chưa được làm rõ.

  • Sưu tầm