Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về vụ bauxite Tây Nguyên

June 12, 2009

Luật sư Cù Huy Hà Vũ (Hà Nội) hôm nay vừa nộp đơn khởi kiện ông Nguyễn Tấn Dũng vì theo ông, thủ tướng Việt Nam đã ra một quyết định ”trái pháp luật” khi vẫn cho thực hiện các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, bất chấp những lời phản đối của dư luận. Sau khi nộp đơn kiện, luật sư Cù Huy Hà Vũ đã dành cho RFI bài phỏng vấn sau đây.

http://www.rfi.fr/actuvi/articles/114/article_3813.asp

LS Cù Huy Hà Vũ Bấm vào đây để nghe phỏng vấn

Thưa luật sư, xin luật sư cho biết là vì sao ông đã quyết định kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tòa chứ không phải là kiện một vị lãnh đạo nào khác trong cái quyết định vẫn tiến hành khai thác các dự án bauxite ở Tây Nguyên?

Thời gian vừa qua tôi cũng nghĩ rằng cái dự án bauxite này như công luận Việt Nam đã phản ánh gây hại nhiều hơn là có lợi. Lúc đầu tôi nghĩ rằng với sự phản đối của công luận, của các vị lãnh đạo cách mạng lão thành như là Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì chắc Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu sẽ phải nghĩ lại, phải cân nhắc thật là cẩn trọng, hay nói cách khác, là dừng cái việc triển khai khai thác bauxite hiện nay đang được tiến hành ở Tây Nguyên. Những chứng cứ ở Quốc hội vừa qua cho thấy Bộ Chính trị vẫn tiếp tục tiến hành. Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam vẫn chủ trương tiến hành. Thậm chí Quốc hội là nơi để có thể bàn thảo về dự án này thì ông chủ nhiệm VP Quốc hội là ông Trần Đình Đàn cũng tuyên bố trước cả Quốc hội là sẽ thông qua. Vì vậy tôi cũng cực chẳng đã phải dùng đến biện pháp tư pháp, tức là khởi kiện ra tòa án, người đã có quyết định hành chính sai lầm dẫn tới triển khai việc khai thác bauxite Tây Nguyên. Đó chính là Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, là người đã ban hành quyết định số 167/2007/QĐTTG ngày 01/11/2007 phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác chế biến sử dụng sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007 – 2015 có xét đến năm 2025.
Thế thì tại sao tôi lại khởi kiên Thủ tướng bởi vì cái quyết định mà tôi vừa nói đó, là cơ sở để người ta triển khai thác bauxite như hiện nay ở vùng Tây Nguyên. Đấy là cơ sở pháp lý và ở pháp luật Việt Nam, cho phép mọi công dân có quyền khởi kiện hành chính để mà kiện người nào đó đã ra những văn bản hành chính trái pháp luật, phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, trong đó có cá nhân tôi!

Thưa luật sư, vậy thì theo cái luật pháp hiện hành của VN, thì quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn cho khai thác bauxite có trái với những văn bản pháp luật nào?

Thứ nhất, quyết định phê duyệt đó của Thủ tướng là trái với Luật bảo vệ môi trường. Cụ thể ở điều 14, mục 1 (đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 Quy định đối tượng để lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược bao gồm:
+ Chiến lược quy hoạch nêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp quốc gia
+ Chiến lược quy hoạch kế hoạch phát triển ngành lĩnh vực trên quy mô cả nước
+ Chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh thành phố trực thuộc TƯ, hay là vùng.

Và điều 15, mục 1 (đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 vẫn của Luật bảo vệ môi trường quy định: cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án (quy định tại điều 14 của quy định tôi vừa nói) có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án, và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự án.

Khoản 6 điều 17, mục 1 (đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 vẫn của Luật bảo vệ môi trường quy định rõ hơn: Kết quả thẩm định, báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để xây dựng dự án.

Rồi điểm A khoản 7 điều 17, mục 1(đánh giá môi trường chiến lược), chương 3 vẫn của Luật bảo vệ môi trường quy định tiếp: Bộ Tài nguyên môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Và điều này đồng nghĩa với việc, Thủ tướng Chính phủ không thể phê duyệt quy hoạch này nếu quy hoạch không có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được thẩm định bởi hội đồng thẩm định do Bộ Tài nguyên môi trường tổ chức.

Thế nhưng quy hoạch này lại chưa có một báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Đây là tôi dẫn nguyên văn sự thừa nhận công khai của Chính phủ tại báo cáo gửi Quốc hội vừa qua để giải trình việc triển khai dự án bauxite. Do đó tôi kết luận: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác chế biến sử dụng quặng bauxite rõ ràng là TRÁI Luật bảo vệ môi trường.

Thứ hai là quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là trái Luật quốc phòng, trái cả Luật di sản văn hóa.

Tôi nói cụ thể là khoản 2, điều 11 Luật quốc phòng quy định là quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng tỉnh thành phố trực thuộc TƯ và khu vực trọng điểm về quốc phòng phải được Bộ quốc phòng và các cơ quan thẩm quyền của Chính phủ phối hợp thẩm định. Vì vậy, Luật quốc phòng là một căn cứ để Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định.

Thế rồi khoản 1 điều 4, Luật di sản văn hóa quy định: lối sống, nếp sống thuộc di sản văn hóa phi vật thể, được nhà nước bảo vệ và phát huy. Cho nên việc khai thác chế biến sử dụng quặng bauxite được triển khai trên diện rộng ở Tây Nguyên, chắc chắn dẫn đến việc di rời đáng kể đồng bào dân tộc khỏi nơi sinh sống truyền thống của họ, tức là ở vùng rừng núi. Và điều này dẫn tới lối sống, nếp sống của đồng bào rất có thể bị thay đổi. Quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác chế biến sử dụng quặng bauxite nhất thiết phải có sự thẩm định của ngành văn hóa nhằm đảm bảo di sản văn hóa phi vật thể. Vì vậy để bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể – ở trong trường hợp này là lối sống, nếp sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên – Luật di sản văn hóa phải là một căn cứ để Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt dự án.

Thế nhưng điều vô cùng kỳ cục và thực sự tôi thấy sốc: khi lập quyết định này, xem lại quyết định thì Thủ tướng có ghi là “căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001” và chỉ có thế thôi! Không có căn cứ vào luật nào khác. Và điều này có nghĩa là quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng được ban hành hoàn toàn không có căn cứ Luật quốc phòng, Luật di sản văn hóa mà tôi vừa mới nhắc tới. Văn bản luật cuối cùng mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm trái đó là Luật ban hành văn hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thực vậy, điều 15 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (quy định thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản pháp luật) của Thủ tướng Chính phủ, điều này quy định: Căn cứ vào hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị.

Như vậy ta thấy rõ là để ban hành quyết định, Thủ tướng Chính phủ nhất thiết phải căn cứ vào Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường là hai luật hiển nhiên điều chỉnh trực tiếp việc thăm dò khai thác chế biến sử dụng khoáng sản mà trong trường hợp này là bauxite; cũng như quyết định phải căn cứ vào Luật quốc phòng rồi Luật di sản văn hóa là những luật điều chỉnh gián tiếp quy hoạch như tôi vừa trình bày ở trên.

Do đó, việc Thủ tướng ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch thăm dò khai thác chế biến sử dụng khoáng sản ở Tây Nguyên mà không căn cứ vào các luật này cũng như không căn cứ vào các nghị định, hướng dẫn thi hành các luật này, rõ ràng là TRÁI luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thưa luật sư, đó là những văn bản luật mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không căn cứ vào đó để mà ra quyết định liên quan đên việc khai thác bauxite Tây Nguyên. Nhưng mà bây giờ việc khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tòa với trình tự căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để có thể bản thân ông đứng ra kiện Thủ tướng Chính phủ như vậy?

Như chúng ta đều biết, nguyên tắc của pháp luật là chủ thể của mọi hành vi (ban hành văn bản hành chính, lời nói, hành động của những người có thẩm quyền) trái với pháp luật nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì đều là đối tượng khởi kiện cả. Ngoài nguyên tắc chung đó, tôi còn lần ra những quy định rất cụ thể về luật liên quan dẫn tới việc công dẫn có thể khởi kiện những quyết định, văn bản hành chính đi ngược lại những luật mà tôi vừa kể trên.

Thứ nhất, ngoài nguyên tắc trên tôi căn cứ vào khoản 2 điều 4 Luật bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Vậy việc tôi khởi kiện để tòa án hủy bỏ quyết định sai trái của Thủ tướng đó là trách nhiệm thực thi quyền bảo vệ môi trường của mỗi công dân.

Căn cứ thứ hai là khoản 1 điều 128 Luật bảo vệ môi trường, đó là: Tổ chức cá nhân có quyền khiếu nại tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại tòa án về hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Khoản 3 điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, cá tổ chức thành viên, cơ quan tổ chức khác và công dân có quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí văn bản quy phạm pháp luật sai trái.

Vậy tôi coi việc tôi khởi kiện ra tòa, khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra toà để hủy bỏ quyết định Thủ tướng đã phê duyệt là thực thi quyền công dân của tôi, quyền giám sát và xử lí văn bản quy phạm pháp luật sai trái trên thực tế. Đây là cơ sở pháp luật để tôi quyết định khởi kiện Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ra Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội do việc Thủ tướng đã ban hành trái pháp luật quyết định 167/2007QĐTTG phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác chế biến sử dụng bauxite giai đoạn 2007 – 2015 có xét đến năm 2025.

Hay nói cách khác, tôi khởi kiện để mong chấm dứt hành vi gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và tổn hại này không phải chỉ là hiện tại trước mắt mà sẽ có thể là tổn hại chưa chắc có thể chuộc lại được và cũng là một cách tôi thể hiện lòng biết ơn của tôi đối với cả các thế hệ từ ngàn năm nay phấn đấu xây dựng đất nước Việt Nam và bảo vệ đất nước Việt Nam chống lại mội sự xâm lấn của nước ngoài và bảo vệ tài nguyên, bờ cõi cho người Việt.

Chúng tôi xin cảm ơn Luật sư đã nói về việc khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra tòa về vấn đề khai thác bauxite tại Tây Nguyên.

—————-

Đơn của Luật sư Cù Huy Hà Vũ khiếu kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc đã phê chuẩn QĐ 167/2007/QĐ-TTg để triển khai quy hoạch phân vùng và khai thác bauxite Tây Nguyên, mà theo LS Vũ là trái với các pháp luật hiện hành của Việt Nam

Lần đầu tiên, một sự kiện có thể nói là đã làm “khuấy động” và thu hút mối quan tâm của dư luận rộng rãi ở trong và ngoài nước, đó là vấn đề quy hoạch và các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Không cần phải nhắc lại, thông tin đa chiều bây giờ đã rõ ràng rằng, quy hoạch và các đại dự án này có tầm cỡ rất lớn của Quốc gia mà không được thông qua Quốc hội cũng như công bố trước công luận. Đã thế, Thủ tướng Chính phủ còn phê chuẩn Quyết định để triển khai  phân vùng, thăm dò, khai thác và chế biến quặng bauxite.

Sự kiện này đã đưa đến một làn sóng phản đối mạnh mẽ, khởi đầu từ các nhà khoa học và hoạt động xã hội thông qua các phản biện và phân tích, rồi đến đội ngũ trí thức lên tiếng, trong đó phải kể đến ba lá thư kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sự kiện này đã dẫn đến một kỷ lục khác: Lần đầu tiên có một công dân Việt Nam đã viết đơn khởi kiện một nhân vật lãnh đạo cấp cao nhất của chính phủ: Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam, một việc chưa bao giờ có tiền lệ!

Điều này đã nói lên rằng người dân Việt Nam bây giờ cũng đã ý thức được vai trò, trách nhiệm nghĩa vụ cũng như quyền lợi công dân của mình, mà trước đây chỉ là những khẩu hiệu sáo ngữ: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Lá đơn kiện của công dân Cù Huy Hà Vũ mà bị đơn là Thủ tướng Chính phủ này sẽ dẫn câu chuyện đi đến đâu, kết quả như thế nào, chúng ta chờ xem. Nhưng dù có như thế nào, thì đây cũng có thể coi là một “Xô Viết Nghệ tĩnh” thời nay.

Bauxite Việt Nam


Thư ngỏ số 3 Gửi các đại biểu Quốc Hội khóa 12

May 19, 2009

Việt Nam ngày 17 tháng 05 năm 2009

Vì tính cấp bách của vấn đề mà tiếp theo Thư Ngỏ số 2, thư ngỏ này lại được gửi tới quý vị ngay trước kỳ họp ngày 20 tháng 5 năm 2009 này.

Cùng với bản Kiến nghị mang hơn một nghìn tám trăm chữ ký và những lá thư ngỏ trước, Thư ngỏ này chỉ mong thêm một lần gợi ý với quý vị: sẽ đến họp không chỉ với một tinh thần quán triệt nhiệm vụ xây dựng một Nhà nước Pháp quyền, mà còn có trong tay những bằng chứng cụ thể về nguyện vọng và ý chí của đông đảo người dân Việt trước vấn đề nóng bỏng của đất nước, giúp quý vị thực thi quyền hạn của mình trong khung khổ pháp luật Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Kính thưa quý vị,

Hẳn quý vị đều biết chủ đề của thư ngỏ này vẫn là câu chuyện bauxite ở Tây Nguyên.

Xin tóm lược tình hình thành mấy điều để quý vị dễ theo dõi.

1) Từ cuối năm 2008, dự án khai thác bauxite được công khai hóa với tin tức Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008 và sau đó là sự xuất hiện loạt bài phản biện của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn. Cho tới thời điểm đó, đại đa số nhân dân mới biết là trên đất nước ta có cái dự án bauxite đồ sộ này. Nhưng trên thực tế, dự án này đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó, cụ thể là từ năm 2001 với bản Tuyên bố chung do ông Nông Đức Mạnh ký với ông Hồ Cẩm Đào. Sự việc này có nghĩa là suốt hai khóa Quốc Hội XI và XII những người đại biểu chính thức của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước chưa hề được báo cáo để phê chuẩn và nếu cần thì luật hóa. Ông Nông Đức Mạnh từng là Chủ tịch Quốc Hội liền hai khóa, người thường xuyên nói tới khẩu hiệu dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra thực sự đã hoàn toàn làm ngơ, vô hiệu hóa khẩu hiệu đó.

2) Nhưng dẫu sao sự công khai chủ trương khai thác bauxite cũng có mặt có lợi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi hai lần thư tới những người có chức trách cao nhất, phân tích mối nguy hại của chủ trương đó. Đặc biệt qua hai lá thư của Đại tướng, nhân dân được biết là ngay từ thời khối SEV (hoặc còn gọi là COMECON) cũng đã dự định khai thác bauxite ở Tây Nguyên Việt Nam, mà chỉ vì những nguy hiểm về kỹ thuật và an toàn môi trường mà khối SEV chân thành khuyên Việt Nam không thực hiện chủ trương đó. Lá thư của Đại tướng cũng nhắc đến vị trí chiến lược của Tây Nguyên, là điều sau đó còn được Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên nhắc lại và được đề cập rất rành mạch trong thư của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh: “[…] nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

3) Những thư của các tướng lĩnh nói trên rất quan trọng, nhưng còn trên dạng chiến lược, và phải đợi những lá thư và bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, người có vị trí không thấp trong Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) thì dư luận mới thấy rõ toàn diện các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật văn hóa, xã hội và an ninh của vấn đề. Loạt bài của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn đã làm dấy lên cuộc thảo luận chưa từng có trên các phương tiện truyền thông, kể cả các phương tiện “chính thống” nhất. Và tập đoàn TKV đành phải tổ chức một cuộc gọi là “hội thảo khoa học” tại khách sạn Melia. Nhân dân ta thừa biết giá trị của những hội thảo theo lối “đánh bóng mạ kền” như thế, nên hoàn toàn không bị bất ngờ khi thấy ngay trong Hội thảo có cả đại diện Công ty Trung Quốc Chalco, có những “kết luận” mơ hồ quanh co kiểu “không làm bauxite bằng mọi giá” (Hoàng Trung Hải), và nhất là cuộc phản công sau Hội thảo của Đoàn Văn Kiển chủ tịch TKV với lời lẽ mang rặt đầu óc cờ bạc “đặt 50/50″ vào canh bạc bauxite Tây Nguyên!

4) Để chứng tỏ đó không phải là một nguy cơ nằm trong hoang tưởng của nhiều người mà là nguy cơ có thực, đã có nhiều nhà báo tìm đến tận nơi để viết tường trình. Vietnamnet ngày 14-4-2009 nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây. Trang mạng Sài Gòn tiếp thị ngày 15-4-2009 nói những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người. Cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít. Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) cho biết riêng ở Đắc Nông, ở nơi đang xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây, điều sau đó được lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ cải chính trên Vietnamnet ngày 26-4-2009 rằng con số nêu chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (!!!). (!!!).  Gần đây nhất, báo chí đưa tin: các công ty của Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên bị phạt vì không thực hiện đúng quy định đưa lao động của mình vào làm việc (Báo Sài Gòn tiếp thị ngày 12-05-2009), có nghĩa là chúng ta đã không quản lý được nhân thân những người lao động gốc Trung Quốc, hay nói trắng ra là lao động chui. Nếu không gọi đấy là nguy cơ tiềm ẩn thì phải gọi là gì?

5) Bổ sung vào nguy cơ vừa nói ở trước là một thực trạng khiến công nhân người Hoa sẽ có điều kiện để cư trú vô thời hạn:“Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”.

6) Chưa hết! Mới vừa cách nay chưa đến một tuần, cộng đồng dân mạng Internet còn phát hiện một vụ việc kinh thiên động địa: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa với danh nghĩa là để đưa tin về việc hợp tác kinh tế Việt-Trung. Đứng ra khai trương trang mạng này có cả ba vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai nước, Hồ Cẩm Đào, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết. Chỉ sau ít lâu thì nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam mà không có cách gì xóa nổi, giản đơn là vì máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Điều đó lý giải sự xấc xược của viên Thứ trưởng Bộ Công thương Lê Dương Quang lên diễn đàn xỉ vả giới trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước, những người đã ký tên vào bản Kiến nghị yêu cầu dừng chủ trương bauxite, là kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng.

7) Cũng gây bất bình không kém là thái độ của hai đại biểu Quốc Hội Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng Chính phủ) và Nguyễn Phú Trọng (Chủ tịch Quốc hội). Rất gần đây, ông Nguyễn Tấn Dũng tới thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sau khi nghe Đại tướng nhắc lại yêu cầu trong thư về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên, đã long trọng hứa “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”. Vậy nhưng ngày hôm sau, khi tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông đã quên ngay lời hứa với Đại tướng hôm trước và dõng dạc tuyên bố: Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn. Còn ông Nguyễn Phú Trọng thì đã làm cho cử tri theo dõi tình hình đất nước trên mạng hết sức bất mãn và phiền lòng vì những lời lẽ khó hiểu và không hợp với cương vị của mình: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”,[...] Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu … (!?)

Thưa quý vị đại biểu Quốc hội,

Chúng tôi thành thực xin lỗi quý vị vì đã tóm tắt không thật ngắn gọn một tình hình quá dài, sự nguy cấp có thể dẫn dân tộc ta tới một cuộc đời nô lệ trong chế độ thuộc địa kiểu nửa cũ nửa mới dưới ách của những người “đồng chí” không trung thực, làm rùng mình bất kỳ ai đang theo dõi cái “lưỡi bò” liếm sạch vùng biển Đông cho tới sát Indonesia, đang theo dõi những cuộc khiêu khích phiêu lưu trên biển Đông kích thích chính quyền Hoa Kỳ phải điều động hai phi đội máy bay tiêm kích tàng hình tới vùng này…

Chúng tôi kêu gọi quý vị đại biểu tại kỳ họp này hãy đưa vấn đề bauxite Tây Nguyên đặt lên bàn nghị sự và đi tới một nghị quyết có tính toán toàn diện đến việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên; cụ thể là:

a) Yêu cầu Chính phủ cho ngưng toàn bộ dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin hiện đang có với mọi đối tác: Australia, Nga, Trung Quốc, v.v. tại đây cũng như mọi nơi khác trên lãnh thổ chúng ta. Hãy để cho thế hệ sau, 25 – 30 năm nữa, với trình độ kỹ thuật cao hơn, trở lại xem xét khả năng khai thác bauxite, sản xuất alumin;

b) Thành lập một Ủy ban nghiên cứu đường hướng phát triển kinh tế cho Tây Nguyên với sự hợp tác của nhiều lãnh vực chuyên môn và giữa các nhà trí thức trong và ngoài nước.

Chúng tôi kêu gọi quý vị yêu cầu Bộ trưởng Bộ Công thương phải ra điều trần, đồng thời ra một nghị quyết cách chức vị Bộ trưởng không xứng đáng của Bộ này. Đó là phép nước và cũng là để thực hiện đúng luật truyền thông của Việt Nam.

Quý vị là đại biểu Quốc Hội, tức là thành viên của một tổ chức quốc gia tiên tiến – một hình thức tổ chức đã được thử thách trong nhiều thế kỷ qua và đã từng giúp cho nước Anh, nước Pháp và Hoa Kỳ cùng biết bao quốc gia dân chủ khác thành những địa chỉ dân tộc hùng mạnh, con người hạnh phúc, cuộc sống mỗi ngày một thêm bình yên đáng sống trong nguyên lý đồng thuận. Phần lớn quý vị cũng lại là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, xin quý vị hãy giữ thanh danh và thể diện cho chính đảng đó để hành động có ích nhất cho dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá lâu!

Xin chúc quý vị an khang và thành đạt cùng với dân tộc!

GS Nguyễn Huệ Chi,   Nhà văn Phạm Toàn,   GSTS Nguyễn Thế Hùng


THƯ NGỎ (SỐ 2) GỬI QUÝ VỊ LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

May 19, 2009

Việt Nam ngày 7 tháng 5 năm 2009

Kính gửi:

–   Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;

–   Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và toàn thể thành viên Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;

–   Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và toàn thể thành viên Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam

Kính thưa quý vị Lãnh đạo,

Tiếp theo Thư ngỏ (số 1) gửi các đại biểu Quốc hội khóa 12, nay chúng tôi gửi Thư ngỏ này (đánh số 2 để tiện theo dõi) nhằm mục đích phân tích những sai trái trong Thông cáo của Bộ Công thương đề ngày 28 tháng 4 năm 2009, trong đó đã sai về nội dung khi phản bác lại các luận điểm của bản Kiến Nghị đối với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, lại còn sai cả về thái độ khi quy chụp những trí thức đã ký tên vào kiến nghị là kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng.

Sở dĩ chúng tôi phải dùng hình thức thư ngỏ, vì kinh nghiệm cho thấy quý vị rất hiếm khi – thậm chí không bao giờ – đối thoại với những người gửi thư tới quý vị, ngay cả những công dân có công lớn với đất nước như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cựu Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh, … thì thư gửi tới quý vị đều không được phản hồi, vậy nên, việc viết thư ngỏ là biện pháp bất đắc dĩ mà chúng tôi phải lựa chọn để công khai cho đông đảo nhân dân xem và phán xét lập luận cùng thái độ của chúng tôi đúng hay sai.

Sở dĩ bài Thông cáo báo chí của Bộ Công thương được tung ra từ ngày 28 tháng 4 năm 2009, nhưng mãi đến hôm nay chúng tôi mới có thư ngỏ này, đó là vì Ban Khởi thảo Kiến nghị không muốn tự tiện, còn phải chờ ý kiến số đông, đặc biệt ý kiến từ các chữ ký tiêu biểu chủ chốt, xem có cần phải trả lời hay không, và nếu có thì nên trả lời thế nào. Vì chúng tôi biết rằng, sai lầm từ một người như ông Thứ trưởng Bộ Công thương thì có thể được làm ngơ, ngược lại những phản hồi này chỉ sai sót chút ít là đủ để nhận những đáp trả không xứng đáng với tư cách chúng tôi.

Kính thưa quý vị,  

Ngày 28 tháng 4 vừa qua, đại diện Bộ Công thương phân phát một Thông cáo báo chí trong buổi họp giao ban tại Hà Nội, được cho là đến tay 300 nhà báo, nhưng không có công khai công bố trên bất cứ một tờ báo nào trong nước. Chúng tôi đã may mắn được đọc, và nhận thấy, nội dung của Thông cáo đó có nhiều điều sai, chúng tôi sẽ trình bày qua thư ngỏ này.

Trước hết, đề cập chung đến bản Kiến nghị ngày 12 tháng 4 năm 2009 về chủ trương khai thác Bauxite Tây Nguyên, một văn bản đầu tiên gồm 135 chữ ký tự nguyện của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, tập hợp đủ các ngành nghề, kể cả những người có chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, kỹ thuật khai thác, v.v. và hiện đang được sự ủng hộ ngày càng tích cực của mọi người, chí ít là chưa thấy một lời lẽ phê phán nào, càng không thấy có ai chống lại. Chưa bao giờ thấy hiện tượng cả ngàn người nhất trí ký tên vào bản Kiến nghị trong đó rất nhiều người không quen biết nhau mà mới chỉ “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, thế mà bản Thông cáo báo chí của Bộ Công thương lại nói về những chữ ký đó một cách hàm hồ và chụp mũ trắng trợn như sau:

“[…] bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với nhiều thông tin không chính xác.

Chúng tôi tạm bỏ qua chưa phân tích “kết luận” trên của Bộ Công thương, bỏ qua cả những kiểu cách quy chụp rất trịch thượng trong ngôn từ mà Bộ Công thương sử dụng, chỉ xin đi vào những lý lẽ cụ thể đã được Bộ Công thương phản bác.

Kính thưa quý vị,

Ý kiến thứ nhất của chúng tôi được Bộ Công thương trích dẫn như sau:

“Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được “ký tắt” với người Trung Quốc từ nhiều năm về trước mà không hề xin ý kiến nhân dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra; toàn bộ báo cáo tiền khả thi chưa bao giờ được trình ra trước nhân dân và đại diện của nhân dân tức Quốc hội”.

Giải trình của Bộ Công thương:

Đây là nội dung hoàn toàn sai trái: Các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong giai đoạn hợp tác với các nước khối SEV. Chủ trương phát triển ngành công nghiệp này đã được nêu trong văn kiện của hai Đại hội Đảng IX, và X. Bộ Chính trị đã xem xét và có nhiều chỉ đạo về vấn đề này, giao cho Chính phủ lập quy hoạch. Dự án Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 được xây dựng từ những năm 2005, trong quá trình xây dựng có nhiều cuộc hội thảo, lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước v.v. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007”.

Chúng tôi xin phản hồi như sau:

–  Đầu thập niên 1980, Việt Nam yêu cầu khối SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế hay COMECON) nghiên cứu dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin của Việt Nam. Mặc dù Liên Xô đang phải nhập khẩu 50% bauxite, chuyên gia Liên Xô, thông qua khối SEV, vẫn khuyến cáo Việt Nam “không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè…) trên Tây Nguyên”(1). Lúc ấy Tổng Bí thư là Lê Duẩn và Thủ tướng là Phạm Văn Đồng.

–  Tháng 12 năm 2001, sau Đại hội Đảng IX, tân Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bauxite nhôm Đắc Nông(2).

–  Tháng 5 năm 2002, báo chí Trung Quốc đưa tin: Năm 2001, Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 800 triệu đô la Mỹ ở Tây Nguyên; Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo tiền khả thi sơ khởi về khả năng sản xuất hàng năm 1 triệu tấn alumin ở Đắc Nông(3).

–  Tháng 12 năm 2003, báo chí Trung Quốc đưa tin: Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) tham gia dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên; Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án trị giá 1.35 tỷ đô la Mỹ và hai bên sẽ hoàn chỉnh báo cáo tiền khả thi cho dự án(4).

–  Tháng 12 năm 2005, báo chí Trung Quốc đưa tin: Chalco đã ký một thỏa thuận ban đầu với Tập đoàn nhà nước Tổng công ty Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) để cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên(5).

Tất cả những dữ kiện nêu trên đều xảy ra trước Đại hội Đảng X tổ chức vào tháng 4 năm 2006 khi vấn đề khai thác bauxite, sản xuất alumin mới lại được đề cập đến. Tuy nhiên, ngay cả khi “có chủ trương” rồi, thì tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam vẫn không được thông báo về chủ trương và dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin cho đến khi tin tức về dự án và phản biện được công khai hóa trên phương tiện truyền thông đại chúng bắt đầu từ cuối năm 2008.

Như vậy, giải trình của Bộ Công Thương là hoàn toàn không trung thực chứ không phải nội dung bản Kiến nghị của chúng tôi là sai trái, theo Thông cáo báo chí của họ.

Kính thưa quý vị,

Ý kiến thứ hai được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):

“Người Trung Quốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ để chuyển sang khai thác ở Việt Nam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và nhiều đời mai sau – những hành động y hệt như họ đã và đang làm ở châu Phi với sự giúp sức của những chế độ cai trị tham nhũng tại châu lục này, và đang bị dư luận thế giới theo dõi chặt chẽ và hết sức công kích”.

Ý kiến thứ ba được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):

“Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc, một cường quốc mới nổi dậy với nền kinh tế đang giàu lên nhưng bên trong vẫn chứa đựng không ít thực trạng bất khả tín, trong đó liên quan đến vấn đề khai thác bauxite là sự “nổi tiếng” của Trung Quốc trên toàn thế giới hiện đại như là một quốc gia gây ô nhiễm môi trường vào bậc nhất, chưa kể những “vấn nạn” khác (chỉ mới trong tháng Ba vừa rồi Chính phủ nước Úc đã phải hủy bỏ một dự án khai thác khoáng sản ở Nam Úc ký với Trung Quốc vì lý do quốc phòng)”.

Giải trình của Bộ Công Thương:

Như trên đã nêu, hiện nay ở Tây Nguyên chỉ có 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ là do ta tự đầu tư (chủ đầu tư là Tập đoàn nhà nước TKV) mà không phải là dự án liên doanh với nước ngoài. Nội dung bản kiến nghị cố tình xuyên tạc sự thật, mang tính kích động làm ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng và Nhân dân hai nước.

“Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ một dự án nước ngoài nào hoặc liên doanh nào về khai thác bauxite, sản xuất alumin tại Việt Nam được thỏa thuận. Việc dự kiến hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài như Alcoa (Mỹ), Chalco (Trung Quốc), Uc-Russal (Nga) vẫn đang được các doanh nghiệp Việt Nam đàm phán và chưa có kết quả. Như vậy thông tin về việc Trung Quốc đóng của các mỏ bauxite và chuyển sang khai thác bauxite ở Việt Nam là không có tính hiện thực và không đúng với tình hình thực tế.

“Về vấn đề “Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc…”:

Đối với dự án nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ, Tổng thầu gói thầu EPC là Công ty Chalieco, Trung Quốc (Công ty con của Chalco). Trong quá trình xét thầu, hồ sơ dự thầu của Công ty này đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu; Chalieco cam kết chuyển giao công nghệ sản xuất alumin tiên tiến. Thực tế sản phảm alumin của Chalco đạt tiêu chuẩn để sản xuất nhôm và có tính cạnh tranh trên thế giới. Tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 9 tháng 4 năm 2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc chuyển giao công nghệ sản xuất alumin, đảm bảo công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường”.

Chúng tôi xin phản hồi như sau:

–   Theo các báo quốc tế cũng như theo báo chí Trung Quốc, trong vòng hơn 5 năm nay, hàng ngàn doanh nghiệp khai thác quặng mỏ (bauxite, than, v.v.) của Trung Quốc phải đóng cửa do những quy định mới về bảo vệ môi trường hay đòi hỏi canh tân kỹ thuật. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp lớn như Chinalco không ngừng mở rộng thị trường khai thác bauxite, sản xuất alumin ra nước ngoài như Brazil, Australia, Guinea hay Việt Nam(6).

–   Tháng 11 năm 2006, hãng thông tấn Reuters đưa tin trong thời gian Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tham dự Hội nghị APEC ở Hà Nội, Chalco và TKV đã ký hiệp nghị khung cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 1.6 tỷ đô la Mỹ(7).

–   Tháng 5 năm 2007, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalco và TKV đã thỏa thuận cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin. TKV và Chalco sẽ thành lập liên doanh bauxite trong đó TKV nắm 51% vốn và thành lập liên doanh alumin trong đó Chalco nắm 60% cổ phần(8).

–   Tháng 5 năm 2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác”.

–   Tháng 7 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalieco và TKV đã ký thỏa thuận tổng thầu gói thầu EPC xây dựng nhà máy sản xuất hàng năm 0.6 triệu tấn alumin tại Bảo Lâm, Lâm Đồng(9).

–   Tháng 9 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin dự án khai thác bauxite giữa Chalco và TKV ngưng trệ do bất đồng trong vấn đề xây dựng hạ tầng cơ sở(10).

Tất cả những dữ kiện nêu trên nhấn mạnh hai điểm chính:

–   Việc các doanh nghiệp Trung Quốc khai thác quặng mỏ ảnh hưởng nguy hại đến môi trường và việc họ mở rộng lãnh vực khai thác quặng mỏ ngoài Trung Quốc là một thực tế không thể chối cãi.

–   Các doanh nghiệp Trung Quốc coi trọng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên và đang ráo riết thúc đẩy Việt Nam trong quá trình thi công. Mọi chậm trễ, nếu có, chỉ là yếu tố nhất thời.

Kính thưa quý vị,

Trong phần kết lá thư gửi Hội thảo về bauxite ngày 09/4/2009 tại Khách sạn Melia, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có lời khuyên hết sức thẳng thắn là:

“[…] không nên khai thác.

Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.”

Những điều được viết trong bản Kiến nghị của cả ngàn chữ ký chúng tôi chỉ là biểu hiện lý trí và tình cảm đã được Đại tướng bộc bạch. Qua văn bản kết luận gần đây của Đảng và Thủ tướng Chính phủ, nhân dân Việt Nam nhận thấy có nét tư duy tích cực, đã đặt ra yêu cầu thận trọng khi xử lý vấn đề bauxite Tây Nguyên(11). Song, chúng tôi vẫn thấy cần vạch ra mấy xu thế sau đây:

Có ý kiến cho rằng, do cam kết quốc tế, Việt Nam không thể ngưng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumina

Tình hình cụ thể cho thấy: nhân dân Việt Nam thông qua Quốc Hội, cơ quan quyền lực tối cao của mình, chưa hề có dịp biểu quyết về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bên “cam kết quốc tế” thực sự tôn trọng quyết định của cả dân tộc Việt Nam, thì đó là điều tốt cho họ. Còn không, nhân dân Việt Nam đã biết dựng nước thì cũng biết giữ nước. Nhân dân Việt Nam từng trải nhiều ách nô lệ, chắc chắn không một ai vì quyền lợi riêng mà bênh “bên đối tác” và phản bội lại dân tộc mình.

Có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế khu vực cho Tây Nguyên là một nhu cầu cấp bách, trong đó trữ lượng bauxite của Việt Nam lớn hàng thứ ba trên thế giới, nên càng cần tận dụng nguồn tài nguyên này vào phát triển kinh tế!

Tình hình cụ thể cho thấy: Dân tộc ta vừa ra khỏi chiến tranh, kinh nghiệm xây dựng đất nước vẫn còn non nớt. Tình trạng đó thể hiện ở năng lực yếu khi quản lý những hạng mục lớn mà thực tế làm ăn thất bát trong việc nhập hàng loạt các nhà máy mía đường, vụ ô nhiễm kéo dài cả chục năm do nhà máy bột ngọt Vedan gây ra, vụ quy họach ồ ạt các sân golf … chỉ là mấy thí dụ quá nhỏ. Việc học tập xây dựng một đất nước PHÁT TRIỂN  BỀN VỮNG không dễ dàng gì khi còn có đầu óc quản lý lối tiểu nông, khi còn có tệ nạn tham nhũng, và khi bắt đầu hình thành những tập đoàn lợi ích rất khó kiểm soát.

Nếu có ai đó đã nói không khai thác bauxite bằng mọi giá, thì mong rằng đó là lời nói chân thành. Người biết nghĩ như thế hãy đấu tranh chống lại lối suy nghĩ kiểu cờ bạc, đem dân tộc ra đặt 50/50 vào một canh bạc chắc gì đã năm ăn năm thua?

Cũng đấu tranh cả với thói vô trách nhiệm, thể hiện trong những cách phát ngôn thiếu suy nghĩ, thiếu tầm vóc của người có trách nhiệm xây dựng Nhà nước Pháp quyền.

Kính thưa quý vị,

Vì hoàn toàn tin cậy vào quý vị, lại hy vọng rằng quý vị cũng cùng tâm tư với chúng tôi, nghĩa là cùng đặt quyền lợi Tổ quốc trên hết, chúng tôi trông đợi những quyết định đầy bản lĩnh và đầy trách nhiệm của quý vị. Khó khăn nào hơn khi Đại tướng thân yêu của chúng ta quyết định kéo pháo ra, chậm cuộc tổng tiến công lại, song Ngài đã làm được điều đó, và tên tuổi Ngài sẽ sống mãi cùng non sông đất nước!

Xin cám ơn quý vị Lãnh đạo đã lắng nghe lá Thư ngỏ số 2 này, trong đó chứa đựng những lời tâm huyết của những con người chỉ muốn rảnh rang làm công việc sáng tạo âm thầm của mình, không một mảy may thu vén cho riêng mình trong vụ việc liên quan đến dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin.

Xin chân thành cảm ơn quý vị,

Thay mặt các chữ ký Kiến nghị Bauxite Tây Nguyên

GS Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng

Phụ chú:

(1). Thư Đại tuớng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 14/01/2009

(2). http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335

(3). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2002-05/09/content_118721.htm

(4). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2003-12/05/content_287458.htm

(5). http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/20/content_504770.htm

(6). “Refined Brown Aluminum Oxide from China”, U.S. International Trade Commission, March 2009; “Bauxitee and Alumina [Advanced Release]”, U.S. Department of Interior, U.S. Geological Survey, November 2008; Thailand Office of Industrial Economics Report, April 2005

(7). http://www.reuters.com/article/companyNewsAndPR/idUSHAN21294820061117

(8). http://english.vietnamnet.vn/biz/2007/05/698557/

(9). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=40298

(10). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=41689

(11). http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/

http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/846241/


THƯ NGỎ 1: GỬI CÁC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

May 19, 2009

Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 2009

Thưa các đại biểu Quốc hội khóa 12,

Hơn một ngàn cử tri và không phải cử tri (sinh sống ở nước ngoài) đã ký tên vào bản Kiến nghị gửi các cơ quan Nhà nước về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, một lần nữa viết thư ngỏ này chân thành gửi gắm lòng tin vào những nhà lập pháp đương thời, coi như một kiến nghị bổ sung, mong quý vị xem xét.

Thưa quý vị,

Gần đây, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra bản Kết luận về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Đó không là một bản Chỉ thị, mà là một bản Kết luận, điều đó thể hiện một thái độ cầu thị, tôn trọng dư luận, một hành động giao tiếp với công luận. Tất cả những ai có thiện chí đều nhận ra điều đó.

Tuy nhiên, cũng trên tinh thần dân chủ và cởi mở, trên tinh thần xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại, chắc chắn là Bộ Chính trị cũng muốn rằng những kết luận của mình sẽ được thể chế hóa thành luật để có đầy đủ giá trị pháp lý và sức mạnh thực thi.

Vì thế, vai trò của quý vị đại biểu Quốc Hội lúc này, nhất là trong kỳ họp tháng 5-2009 sắp tới, thật vô cùng quan trọng.

Mọi người đều biết, từ những năm tám mươi thế kỉ trước, khối COMECON tuy rất cần nhôm, song đã quyết định không khai thác bauxite trên lãnh thổ Việt Nam. Lý do của việc này đã được nói rõ trong hai lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà chắc chắn mỗi đại biểu Quốc Hội đều biết.

Ngày nay, các chuyên gia, các nhà khoa học của ta lại một lần nữa kết luận dứt khoát rằng khai thác chế biến bô xít ở Tây Nguyên là chuốc lấy vô vàn rủi ro về môi sinh và văn hóa để làm một việc không có lãi về kinh tế và tự buộc mình lệ thuộc nguy khốn vào một nước ngoài khách hàng duy nhất của sản phẩm nhôm đó. Điều này, chắc chắn mỗi đại biểu Quốc Hội đều biết.

Một em học sinh Trung học của Việt Nam cũng được dạy trong sách giáo khoa rằng Tây Nguyên là “nóc nhà của Đông Dương”. Thế nhưng, cùng với dự án khai thác bauxite ở vùng này là nguy cơ có mặt của những binh đoàn “người lao động” nước ngoài tới “làm việc”, trong đó nhiều người đã tới bằng visa du lịch. Sự kiện kèm theo số liệu đó đã được phóng viên báo “Nhân dân” đưa ra, chắc chắn mỗi đại biểu Quốc Hội đều đã biết cả.

Thưa quý vị đại biểu,

Thư ngỏ này được công bố trên mạng vào đúng ngày 30 tháng Tư, ngày tổng kết những mừng vui và nghẹn ngào của dân tộc Việt Nam, đó là điều rất có ý nghĩa. Nó nhắc nhở quý vị là những nhà lập pháp rằng một việc làm dù nhỏ nhặt, một lần giơ tay biểu quyết dù vẫn ngập ngừng của quý vị, đều là một viên đá lót đường để dân tộc ta, Tổ quốc ta chắc chắn có cơ may ngẩng mặt nhìn ra năm châu thế giới. Điều trái ngược lại sẽ là cái chết được báo trước, không thể là gì khác!

Chúng tôi tha thiết kêu gọi quý vị hãy xem xét kỹ lưỡng toàn bộ chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên và pháp chế hóa vấn đề này.

Chúng tôi xin gửi tới quý đại biểu Quốc hội lời chào trân trọng và tin tưởng.

Thay mặt các chữ ký Kiến nghị Bauxite Tây Nguyên (*)

Gs. Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Phạm Toàn, Gs. Ts. Nguyễn Thế Hùng

(*) Vì một lý do riêng tư, Ông Nguyễn Hồng Quân, người có tên trong danh sách Kiến nghị ngày 12-4-2009  đề nghị rút tên khỏi Thư ngỏ ngày 30-4-2009


Ngà voi nhổ rồi không mọc lại nữa

April 3, 2009
Ama Kông

Ama Kông bỏ lại đằng sau vương quốc núi rừng vùng vẫy một đời…

Trưa một ngày đầu tháng ba 2009, tại Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc, cách biên giới Campuchia và Lào chừng vài chục cây số, một cụ già được một phụ nữ trẻ đỡ cánh tay, lọm khọm bước lên chiếc xe du lịch màu trắng.

Ông cụ 98 tuổi mặc quần soọc, mình trần, lưng còng. Cụ nhắm mắt, đôi mi mắt mỏng tang, đuôi mắt ngấn lệ. Trời nắng chói mắt, hay cụ không giấu nổi xúc động trong lòng?

Người phụ nữ đùa, như nói với một đứa trẻ : “Bộ già muốn khóc hả?”. Cụ già lên xe đi Buôn Mê Thuột để sống ít lâu với một người con trai.

Cụ chính là Ama Kông, dũng sĩ săn voi và dạy voi huyền thoại mà tiếng tăm đã vượt qua biên giới Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan từ ngày cụ dâng tặng voi trắng cho những quốc vương.

Những công ty du lịch Tây Nguyên ngày nay đua nhau sử dụng hình ảnh cụ.

Hàng trăm cửa hiệu ở Tây Nguyên và những nơi khác bầy bán thuốc cường dương bổ thận mang tên Ama Kông, quảng cáo được làm bằng bốn loại cây cỏ mà loài voi ưa tìm ăn.

Chất phác, không biết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cụ không nhận được một xu tác quyền. Kinh doanh bất chính đã lan tràn tận Tây Nguyên, cướp đoạt không thương tiếc.

Chưa hết, bà Ami Lĩnh, 70 tuổi, con gái của cụ, giữa hai miếng bã trầu đỏ quạnh nhổ lọt trúng khe hở giữa hai tấm ván sàn nhà, còn tiết lộ cho tôi biết là vết thương chưa rút chỉ khâu trên lòng bàn tay trái của cụ là dấu tích nhát rựa mà của bà vợ ‘út ‘ 43 tuổi, trước đó mấy ngày đã chém vào.

Chứng tỏ một sư tử Hà Đông còn đáng gờm hơn cả trăm thớt voi, nhất là trong chế độ mẫu hệ. Tóm lại, Ama Kông đang trải qua một thời kì không vui cho lắm và cũng không mấy vinh quang.

Tôi đã nhiều lần nhìn thấy nét mặt của cả một vùng đất bị xâm phạm, biến dạng và đánh mất bản sắc…

André Menras

Là trưởng lão của một gia đình năm thế hệ, có khoảng hai mươi người con, 43 người cháu, 27 chắt, 5 chít… săn bắt và thuần hoá được gần ba trăm con voi, thế nhưng nay trông dáng cụ phải cúi đầu rời rừng lên thành phố.

Cụ bỏ lại đằng sau vương quốc núi rừng vùng vẫy một đời, để chịu đựng những âm thanh dị kì, chát chúa, với mùi khói xăng xốc óc, ánh đèn ma quái và những bức tường của thành phố xa lạ.

Cụ ra đi. Và có thể cụ sẽ trở về, nhưng tôi sẽ không bao giờ hỏi cụ những câu hỏi mà tôi đã chuẩn bị kĩ trước khi gặp. Hình như một cuộc hẹn lỡ làng…

Lỡ hẹn với thiên nhiên

Từ năm 1969 đến nay, tôi chưa trở lại thăm vùng này trên chiếc xe gắn máy, trong đầu óc tôi còn giữ nguyên những hình ảnh hoang tàn, chết chóc.

Hàng trăm hecta cây cối trụi lá, khẳng khiu quằn quại như những bộ xương khô, nâu nâu hay xám xịt.

Hàng chục hecta đất bị những xe ủi khổng lồ của quân đội Hoa Kỳ cày xới, hoang hoá để ‘khai quang’ vành đai chung quanh những căn cứ quân sự…

Nay, đúng là đâu đâu tôi cũng thấy tận mắt sức sống sôi nổi, trong cơn sốt xây dựng tràn trề sức trai bạo liệt.

Dọc đường, không có đoạn nào không có nhà cửa đang xây. Xe ben, xe lăn, xe ủi đất nhiều hơn cả những cột cây số.

Những đoạn đường mới toanh vừa hoàn thành, thênh thang, phẳng phiu.

Nhân Cơ, nơi sẽ có công trình khai thác bauxite

‘Suối đỏ lựng như dòng máu tuôn chảy từ thân thể một vùng đất bị tử thương như ở Nhân Cơ’

Nhưng biết bao đoạn khác còn đang là những công trường, và bấy nhiêu cuộc hẹn lỡ dở đối với những giá trị của văn hoá và văn minh.

Đường sá đã trở thành một chiến trường mà trên đó quy luật giao thông duy nhất là : kẻ yếu muốn sống còn phải lép vế kẻ mạnh; tài xế xe đò và xe tải tác oai tác quái như những tên sát nhân hung bạo, phóng nhanh, bóp còi inh ỏi, bất chấp những chiếc xe máy tội nghiệp đi ngược chiều đã phải chạy dẹp sang bên lề đường chưa được gia cố.

Trên đường đi từ Buôn Mê Thuột về Đắc Nông, tôi phải trải qua không biết bao nhiêu giờ phút kinh hoàng lẫn phẫn uất.

Bất luận thế nào, từ nay đối với tôi Tây Nguyên không còn là ‘vùng sâu vùng xa’ nữa rồi.

Không đủ thời gian và thiếu thông tin, hẳn tôi đã đi qua mà không biết rất nhiều thắng cảnh.

Song có một điều chắc chắn: cả vùng Tây Nguyên đang biến đổi theo một vận tốc chóng mặt.

Đồi xanh trở thành đồi trọc, mặt đất nhiều nơi hoang hoác như trên mặt trăng.

Dưới thung lũng, sông suối đỏ lựng như dòng máu tuôn chảy từ thân thể một vùng đất bị tử thương như ở Nhân Cơ, Gia Nghĩa tỉnh Đắc Nông.

Dân số người Kinh áp đảo dân số các sắc tộc bản địa đang sống lay lắt, như những cây rừng bị bứng rễ.

May mắn cho tôi, có một cuộc hẹn tình cờ rất thú vị tại thị xã Kontum với nhà văn Nguyên Ngọc, tác giả tác phẩm nổi tiếng ‘Đất nước đứng lên’ mà nhân vật chính là anh hùng Núp.

Là người Kinh nhưng với những hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hoá, phong tục, tâm lý người dân tộc thiểu số, môi trường, thậm chí linh hồn Tây Nguyên của ông, tôi nghĩ Nguyên Ngọc là một Già làng thứ thiệt.

Nguyên Ngọc và André Menras

Nhà văn Nguyên Ngọc kể chuyện Tây Nguyên cho nhà giáo Pháp André Menras

Là thầy giáo nhưng ông không ngừng tự học mỗi ngày.

Đi nhiều với sự dẻo dai hiếm có của một ‘già làng’ 77 tuổi, ông đã từng lên tiếng mạnh mẽ để bảo vệ nền văn hoá xã hội quí báu, độc đáo của thiên nhiên và lịch sử con người vùng ấy khi nó bị đe doạ bởi quyết tâm vô tâm của con người.

Tới đây, tôi phải nói thực lòng: trong chuyến đi ngắn ngày, tôi đã nhiều lần nhìn thấy nét mặt của cả một vùng đất bị xâm phạm, biến dạng và đánh mất bản sắc.

Vùng đất ngày hôm qua còn là cái mái nhà của toàn bộ bán đảo, hiên ngang, độc đáo, huyền bí mà bao dung, tự trọng và được kính trọng, nay đang trở thành cái bậc tam cấp lè tè, vất vưởng trước bốn phương gió chướng.

Ảo ảnh giàu sang dễ dàng đấy, nhưng chắc chắn phù du?

Viễn cảnh lợi nhuận kếch sù cho một số người, cho tất cả hay cho những ai?

Mục đích của tôi không phải là trả lời những câu hỏi ấy. Sớm muộn tương lai sẽ trả lời !

Tôi chỉ muốn nói, như Ama Kông, rằng ngà voi, một khi nhổ đi rồi, sẽ chẳng bao giờ mọc lại.