Đánh vào “gót chân Asin” của Trung Quốc

Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh

Trung Quốc cũng có những điểm mạnh và điểm yếu của mình như một con người. Nếu coi Trung Quốc ngày nay như “cái bóng” e rằng chỉ thấy điểm mạnh mà không dám thấy những điểm yếu của họ. Anh hùng như Asin cũng có tử huyệt nơi gót chân.

Tuy rất thích câu hỏi Diễn đàn Kinh tế Việt Nam đặt ra: “Việt Nam làm gì để phồn vinh cạnh “cái bóng” Trung Quốc?”, nhưng cá nhân người viết không muốn dùng từ “cái bóng”. Ít văn vẻ, cụ thể và bình đẳng hơn, câu hỏi có thể: “Việt Nam chọn chiến lược phát triển nào để phồn vinh bên cạnh sự trỗi dậy của Trung Quốc?”.

Trung Quốc từ lâu, đã là một “người khổng lồ”, lúc thăng, lúc trầm. Kể từ thời đổi mới bắt đầu bằng ông Đặng Tiểu Bình, cho đến khoảng từ những năm đầu của thế kỷ 21, Trung Quốc bắt đầu cho thế giới thấy sự vươn dậy của một người khổng lồ sau giấc ngủ dài. “Người khổng lồ” đương nhiên là rất khỏe, nhưng cũng có những yếu điểm, chẳng thế mà chàng David bé nhỏ có thể hạ được gã khổng lồ Goliah.

Nói thế không phải ám chỉ Việt Nam có thể là chàng David bé nhỏ tài ba, mà chỉ muốn nhìn Trung Quốc như một người khổng lồ, cũng có những điểm mạnh và điểm yếu của mình như một con người. Nếu coi Trung Quốc ngày nay như “cái bóng” e rằng chỉ thấy điểm mạnh mà không dám thấy những điểm yếu của họ. Anh hùng như Asin cũng có tử huyệt nơi gót chân.

Và như tác giả Cảnh Thái đưa ra ví dụ về các nước nhỏ nhưng giàu, đã song song tồn tại cùng phồn vinh bên cạnh sự lớn mạnh của Trung Quốc, như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan nhờ có những chiến lược, bước đi thông minh để thực sự phồn vinh cạnh một Trung Quốc khổng lồ.
Trung Quốc được ví như công xưởng của thế giới (ảnh yoyojoes)

Việt Nam học được kinh nghiệm gì từ những nước đó? Chúng ta phát triển kinh tế chậm hơn, đi sau Trung Quốc trong đổi mới và mở cửa thị trường. Hơn nữa, cũng cần lưu ý rằng, những điểm mạnh mà các nước Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan đang có đều rất có thể sẽ không còn, nhất là khi Trung Quốc vươn mình. Bởi, bản thân Trung Quốc cũng đang đi trên con đường công nghiệp hóa rất giống những nước này, nhất là các mặt hàng công nghiệp điện tử, ôtô.

Trước khi suy nghĩ chiến lược phát triển của Việt Nam bên cạnh Trung Quốc, thử tìm xem “người khổng lồ” này có những điểm mạnh, điểm yếu gì? Có hay không gót chân Asin trong con người người khổng lồ đó?

Đi tìm “gót chân Asin” của Trung Quốc

Dân số đông chính là điểm mạnh, điểm khác biệt lớn nhất của Trung Quốc mà cả thế giới thèm muốn, nhưng không nước nào có được.

Chính vì dân số đông nhất, là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc luôn chọn cho mình chiến lược sản lượng, nghĩa là lấy sản lượng lớn, để giảm giá thành sản xuất; từ đó, có sức cạnh tranh cực mạnh bằng chính sách giá trên toàn cầu. Từ điểm mạnh mang tính cốt lõi này, mà Trung Quốc có một loạt các điểm mạnh phát sinh khác như nhiều bài báo đã viết.

Như chúng ta biết, trong chiến lược sản xuất, kinh doanh người ta nói nhiều về hai chiến lược quan trọng: Chiến lược về giá thấp (cost strategy) và chiến lược về khác biệt (differentiation strategy). Với thị trường quá cỡ như Trung Quốc, một cách gần như tự nhiên, người ta sử dụng lợi thế giá rẻ của chính sách sản lượng (economies of scale) và tác dụng của đường cong kinh nghiệm (experience curve effects) với ý nghĩa, quy mô càng lớn, thì giá thành sản xuất càng giảm và càng sản xuất nhiều, kinh nghiệm nhiều, thì người lao động càng khéo và giảm chi phí sản xuất.

Trong khi đó, sẽ rất ít người dám dũng cảm, từ bỏ lợi thế trời cho đó, để theo đuổi chiến lược Khác biệt với ý nghĩa, tạo khác biệt cực mạnh và bán giá cao nhờ khác biệt đã được tạo ra. Liệu đó có thể là điểm yếu, là gót chân Asin của “người khổng lồ” Trung Quốc, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam len lỏi vào thị trường Trung Quốc?

Sẽ có người phản biện. Chẳng nhẽ người Trung Quốc không biết điều đó?
Không chỉ người khổng lồ, mà ai cũng có “gót chân asin”

Tất nhiên, họ biết. Song, biết là một chuyện, có dũng cảm cưỡng lại hay không lại là chuyện khác. Ngài David Ricardo (1772-1823), nhà kinh tế chính trị học cổ điển nổi tiếng người Anh, cha đẻ của thuyết Lợi thế so sánh (comparative avantage) đã có câu gợi ý: “Lợi thế so sánh” là cơ sở thúc đẩy tự do trao đổi thương mại giữa các quốc gia.

Nội dung cơ bản của thuyết có thể được giải thích thông qua một ví dụ đơn giản sau. Một nước A có thể sản xuất 2 mặt hàng a và b. Cả 2 mặt hàng đều mang lại lợi nhuận, nhưng sản xuất mặt hàng a mang lại lợi nhuận cao hơn mặt hàng b. Nước B cũng sản xuất mặt hàng b nhưng với chi phí cao hơn chi phí mà nước A bỏ ra đối với sản xuất mặt hàng b. Tuy nhiên, vì sản xuất mặt hàng a mang lại lợi nhuận cho nước A cao hơn là sản xuất mặt hàng b, cho nên, nước A sẵn sàng chỉ tập trung vào sản xuất mặt hàng a và nhập khẩu mặt hàng b từ nước B. Tổng kết lại, họ vẫn có lợi hơn là sản xuất cả hai mặt hàng a và b.

Chính vì vậy, mặc dù, Trung Quốc có thể sản xuất tất cả các mặt hàng, sản phẩm và đều có lợi hơn so với sản xuất tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo xu hướng, lợi thế so sánh, họ sẽ chỉ tập trung vào những mặt hàng sản xuất mang lại lợi nhuận cao hơn, chấp nhận nhập một số mặt hàng từ Việt Nam. Mặc dù, nếu họ tự sản xuất, giá vẫn có thể thấp hơn. Chính vì vậy, dù có giá thành cao hơn, một số mặt hàng, sản phẩm của Việt Nam vẫn có thể xuất sang Trung Quốc được.

Thực ra, ai cũng vậy, khi có một điểm cực mạnh, thì rất ít khi chúng ta từ bỏ điểm cực mạnh đó trong cạnh tranh. Đó cũng là cái bẫy chiến lược về giá thấp của một thị trường cực lớn như Trung Quốc.

Sẽ không nhiều người quan tâm đến chiến lược Khác biệt. Mà nếu có, và trong thực tế vẫn có những doanh nghiệp Trung Quốc theo đuổi chiến lược Khác biệt. Nhưng như vậy, vô hình chung, họ đã tự từ bỏ sở trường mạnh nhất của mình là giá rẻ. Và lúc đó, họ hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp Việt Nam trong cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và tính đặc sắc, khác biệt của sản phẩm.

Thị trường vĩ đại vừa là điểm cực mạnh, nhưng cũng chính là nguồn phát sinh gót chân Asin của Trung Quốc, là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam len lỏi trong cơ thể người khổng lồ này.

Việt Nam nên làm gì?

Như vậy, thay vì cạnh tranh giá rẻ với Trung Quốc, Việt Nam nên tập trung vào đoạn thị trường bậc trung, về chất lượng, thương hiệu và giá cao hơn sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc. Nói cách khác, Việt Nam nên cạnh tranh với các nhà sản xuất Trung Quốc bằng chiến lược Khác biệt.

Thực ra, dù có muốn, Việt Nam cũng không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu của một thị trường 1,3 tỷ dân. Giả sử, thành phần trung lưu Trung Quốc chiếm 20% dân số, thì thị trường mục tiêu đã là 260 triệu dân, gần bằng thị trường tổng thể của Mỹ với 310 triệu dân. Chắc chắn với sự phát triển mạnh mẽ vào bậc nhất thế giới, số lượng dân tầng lớp Trung lưu của Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng.

Chẳng hạn, nhìn vào số lượng người mua ôtô Trung Quốc hàng năm sẽ thấy, nhu cầu của thị trường này là khoảng 15,8 triệu xe (năm 2010)(1). Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành thị trường ôtô lớn nhất thế giới(2). Người mua ôtô chắc chắn không phải là người nghèo. Chỉ tập trung vào thị trường bậc trung đã là quá đủ và bao la đối với các nhà sản xuất Việt Nam.

Như vậy một thị trường lớn gần bằng Mỹ, đang phát triển, ngay bên cạnh chúng ta, sẽ cho ta lợi thế rất nhiều, khi không phải chi phí vận chuyển từ Việt Nam sang Mỹ, giá đến tay người tiêu dùng sẽ cạnh tranh hơn một cách đáng kể, điều kiện hàng qua biên giới vào Trung Quốc cũng dễ hơn vào Mỹ và châu Âu rất nhiều.

Ngoài ra, bằng những sản phẩm đặc sắc của mình, nông, hải thủy sản, rau quả, thủ công mỹ nghệ, may mặc, giầy dép bậc trung, chúng ta có thể hoàn toàn tự tin tìm ra đoạn thị trường mục tiêu phù hợp của mình trong 210 triệu người tiêu dùng bậc trung Trung Quốc.

Dùng chiến lược Khác biệt, nâng cấp các sản phẩm xuất khẩu Việt Nam, tránh cạnh tranh với các sản phẩm tương đương giá rẻ hiện có của Trung Quốc, sẽ là hướng đi hợp lý của chiến lược ngắn và trung hạn Việt Nam. Một điều cần lưu ý, là các nước gần Trung Quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông đều hầu như không có các sản phẩm tương tự như của Việt Nam, chúng ta hầu như không gặp bất kể sức ép cạnh tranh nào ngoài Trung Quốc cho chính thị trường Trung Quốc.

Về dài hạn, khi đã hiểu kỹ người tiêu dùng Trung Quốc thông qua quá trình kinh doanh ngắn và trung hạn, chúng ta có thể phát triển những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, mong muốn của đoạn thị trường mục tiêu đã chọn.

Nhà nước nên lập ra một ban chuyên về Chiến lược phát triển thị trường Trung Quốc. Ban này có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường Trung Quốc; hỗ trợ, xúc tiến các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc; đồng thời tổ chức kiểm tra, kiểm soát chất lượng, thương hiệu các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này.

Việt Nam nên cử các chuyên gia marketing, các đoàn nghiên cứu, tìm hiểu thị trường Trung Quốc. Trong vòng 1 năm, nếu thực sự chuyên tâm, chúng ta sẽ có các kết quả nghiên cứu tổng thể thị trường láng giềng. Từ đó, xây dựng các chiến lược marketing thâm nhập thị trường bậc trung Trung Quốc.

Một cách làm bài bản, đồng bộ, từ tốn, một chiến lược marketing khôn khéo (tham khảo chiến lược marketing của Hàn Quốc trong việc thâm nhập và phát triển thị trường) sẽ giúp chúng ta chinh phục thị trường bậc trung Trung Quốc. Bước đi ban đầu này là cực kỳ quan trọng, sai một ly, đi một dặm. Bằng ngân sách nhà nước, có thể tổ chức đấu thầu, thuê một vài nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường uy tín (Việt Nam và nước ngoài) tiến hành các chiến dịch nghiên cứu thị trường tại các địa bàn khác nhau của Trung Quốc.

Ngoài ra, trong 5 năm đầu, nhà nước nên hỗ trợ một mức % nào đó trên cơ sở doanh số xuất khẩu của các doanh nghiệp, dành cho chi phí nghiên cứu thị trường, hành vi tiêu dùng khách hàng Trung Quốc sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.

Đương nhiên, bên cạnh doanh số xuất khẩu, các doanh nghiệp này phải trình báo cáo nghiên cứu thị trường của mình tại thị trường Trung Quốc, để ban Chiến lược phát triển thị trường Trung Quốc tập hợp thành tài liệu chung, phổ biến cho các doanh nghiệp có ý định xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khác.

Mỗi thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thẩm Quyến..v.v… nên có các trung tâm xúc tiến thương mại của Việt Nam. Hàng tháng, nên có các báo cáo nghiên cứu thị trường Trung Quốc, phổ biến đến các doanh nghiệp. Tăng cường các hội thảo chuyên đề phân tích về thị trường này. Mua lại các kết quả phân tích về Trung Quốc của các nghiên cứu thị trường lớn, có uy tín.

Điều quan trọng nhất vẫn là ý chí vươn lên của người lãnh đạo, người dân và các doanh nghiệp Việt Nam. Có hay không gót chân Asin, thuyết “Lợi thế so sánh” của David Ricardo có tuyệt đối đúng và còn đúng với thời nay hay không? Những hạn chế của thuyết này vẫn còn giá trị hay không? Tất cả những câu hỏi đó, chỉ có thể được trả lời bằng đúng sự chủ động, phấn đấu vươn lên của chúng ta trong việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của những người tiêu dùng bậc trung Trung Quốc.
____________________

1. Nhật Minh (Theo Detroit News). “Thị trường Trung Quốc đáng để mạo hiểm” – Dân trí ngày 7/8/2010.
2. An Huy. Kinh tế thế giới phụ thuộc vào Trung Quốc tới mức nào? Theo VnEconomy ngày 1/11/2010.

(Nguồn: VEF)

HĐND Hà Nội sẽ “mổ xẻ” nhiều vấn đề của Đại lễ

Dự kiến hỳ họp 22 HĐND TP Hà Nội diễn ra từ ngày 6 – 10/12, sẽ xem xét báo cáo nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có đánh giá công tác tổ chức và hoạt động chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Dự kiến sẽ có nhiều vấn đề liên quan đến Đại lễ được bàn tại kỳ họp 22 HĐND TP.

Chiều 3/12, trong buổi họp báo trước kỳ họp, ông Nguyễn Văn Phúc, Phó Chủ tịch thường trực HĐND TP Hà Nội cho biết, kỳ họp 22 HĐND TP dự kiến sẽ xem xét để thông qua 14 nghị quyết quan trọng, trong đó có nhiệm vụ KT-XH, an ninh quốc phòng, khung giá đất năm 2011; Nghị quyết về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung một số quy định thu phí, lệ phí áp dụng trên địa bàn… (more…)

Bá quyền nước lớn hay san sẻ lãnh đạo?

Quyền lãnh đạo khu vực liệu sẽ tập trung vào “bá quyền” của nước có sức mạnh vượt trội, vào “dàn hợp xướng” của một số nước lớn, hay sẽ được san sẻ cho các nước khác đều có phần? – TS Vũ Hồng Lâm phân tích.

Nhận thức lại lợi ích

- Trung Quốc vừa qua đã vượt Nhật, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, Trung Quốc đầu tư mạnh cho quốc phòng và vươn tầm ảnh hưởng ra khu vực và thế giới, có thái độ cứng rắn, cương quyết trong nhiều vấn đề. Có những ý kiến cho rằng điều này làm dấy lên mối lo ngại về mối đe dọa Trung Quốc, nhất là đối với các nước nhỏ trong khu vực.

Theo ông, liệu mối lo ngại này có tác động đến nhận thức của các quốc gia về an ninh và hợp tác ở khu vực hay không, và, nếu có, sự thay đổi về nhận thức sẽ diễn ra theo những chiều hướng nào?

TS Vũ Hồng Lâm: Thật ra thì không phải tất cả các nước đều coi Trung Quốc là mối đe dọa. Tuy nhiên, nhiều nước lo lắng về thái độ cứng rắn và cương quyết của Trung Quốc trong bối cảnh khả năng và sức mạnh của Trung Quốc ngày càng tăng lên. Mức độ lo ngại cũng khác nhau tùy từng nước.

Một cách tự nhiên, những nước đặc biệt lo ngại là những nước mà lợi ích chịu ảnh hưởng mạnh nhất bởi sức mạnh, cũng như hành xử của Trung Quốc. Đó là các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc (như Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ), các nước trong khu vực xung quanh Trung Quốc (như Singapore, Australia), và các nước (hay khối các nước) đóng vai trò lãnh đạo trong khu vực và trên thế giới (như Mỹ, EU).

Sự phát triển của Trung Quốc, về sức mạnh, về quan niệm về lợi ích của họ và về cách họ sử dụng quyền lực, sẽ buộc các nước phải nhận thức lại một số vấn đề quan trọng.

Thứ nhất, các nước sẽ phải nhận thức lại về khả năng Trung Quốc mở rộng quan niệm “lợi ích cốt lõi” của họ. Ví dụ như trước đây, khi nói về những lợi ích không thể khoan nhượng của mình, Trung Quốc thường nhắc đến Đài Loan, và Tây Tạng. Nhưng đầu năm 2010 này, đã có những nguồn tin cho rằng Trung Quốc đã nói với Mỹ rằng Biển Đông cũng nằm trong số đó, ngang hàng với Tây Tạng, Đài Loan. Điều này buộc các nước phải tìm hiểu xem liệu trong tương lai, những gì sẽ được Trung Quốc coi là lợi ích cốt lõi, không thể khoan nhượng.

Thứ nữa, là các nước sẽ phải nhận thức lại về khả năng Trung Quốc sử dụng vũ lực và các hình thức gây sức ép khác trong quan hệ quốc tế. Ví dụ, từ một vài năm gần đây, Trung Quốc được cho là đã sử dụng vũ lực thường xuyên hơn, với mức độ mạnh hơn và ở phạm vi rộng hơn, trong yêu sách lãnh thổ của mình ở Biển Đông.

Hay một ví dụ khác là việc Trung Quốc đã sử dụng vị thế gần như là độc quyền của họ trong thị trường cung cấp đất hiếm trên thế giới để trừng phạt Nhật Bản trong vụ tranh chấp lãnh thổ ở đảo mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư hồi tháng 9 vừa qua. (more…)

Oan sai… Vinashin?

Qua hai ngày chất vấn Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội, ngày 23 và 24-11, vấn đề Vinashin nóng bỏng trước đó đã kết thúc khá nhẹ nhõm. Niềm tin về sự hồi phục của ngành công nghiệp đóng tàu thủy lại được nhen nhóm.

Vinashin đã đóng và giao 26 tàu, trong đó đưa vào hoạt động 23 tàu, năm 2010 đạt doanh thu trên 1.400 tỷ đồng.

Quản lý các tập đoàn kinh tế nhà nước thế nào?

Công nhân đóng tàu trong nhà máy của Vinashin ở ĐBSCL. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ.

(TBKTSG) – Trong vòng năm năm, kể từ ngày đề án thí điểm tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên được Thủ tướng phê duyệt, Việt Nam đã nhanh chóng cho ra đời được 12 tập đoàn. Các doanh nghiệp này đang nắm lượng tài sản khổng lồ của quốc gia và đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện một số chính sách lớn về phát triển.

Do vậy, hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cả nền kinh tế nói chung. Thế mà mô hình tổ chức, cơ cấu quản lý và quản trị các tập đoàn lại đang là vấn đề lớn cần nghiên cứu hoàn thiện.

Việc tập đoàn Vinashin mất khả năng trả nợ và đứng bên bờ vực phá sản, buộc Chính phủ phải cơ cấu lại, là tiếng chuông cảnh báo về những bất cập trong tổ chức, quản lý hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước. (more…)

Vinashin và nợ công: Nóng lên từng giờ

Vinashin và nợ công là những vấn đề lớn, được dư luận rất quan tâm. Những phát hiện này được nêu ra trên diễn đàn QH là đáng hoan nghênh và cần thiết. Đây thực sự là những con số nóng lên từng giờ.

Trần Minh Quân

Ông Nguyễn Minh Thuyết

Kỳ họp Quốc Hội (QH) lần này mới diễn ra có 4 ngày (khai mạc hôm 20/20), tức là mới mở màn nhưng lại có nhiều vấn đề được các đại biểu đưa ra đã gây sốc, sốc thực sự, sốc nhất là những con số. Những con số vô tri nhưng có tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội và niềm tin của người dân.

Những con số này không mới, nó đã được nhắc đến nhiều trong các cuộc họp và cũng đã nhiều lần được đặt lên bàn nghị sự. Tuy vậy khi nghe lại, nhất là sau những phát hiện của các Đại biểu, người nghe không khỏi giật mình.

Con số thứ nhất: Nợ Vinashin

Số nợ của Vinashin được nhắc đến đã lâu, nhiều người cũng đã biết. Lâu nay dư luận và người dân vẫn nghe quen con số 86 nghìn tỉ đồng. Nó là con số được nhắc đến trong hầu hết các báo cáo và trên báo chí. Nghe nhiều thành quen, 86 nghìn tỉ đồng như con số mặc định và chúng ta chấp nhận nó.

Vậy mà trong phiên họp QH ngày hôm qua, 23/10/2010, Chủ nhiệm UB Quốc phòng – An ninh của QH, ông Lê Quang Bình đưa ra thông tin: “Chúng tôi nhận được những thông tin, số liệu đáng tin cậy từ phía các ngân hàng liên quan đến Vinashin, khẳng định rằng số nợ của tập đoàn này lên tới 120 nghìn tỉ đồng, không chỉ là 86 ngàn tỉ đồng như báo cáo”.

Ông Lê Quang Bình

Hơn thế, thay vì xác nhận thì người đứng đầu ngành kế hoạch – đầu tư, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc còn nhắc tới số liệu… 130 nghìn tỉ đồng!

Vậy con số nào đúng? Và con số nào là cuối cùng? Đến giờ nầy không ai có thể trả lời chính xác được.

Nếu lấy số nợ của Vinashin (theo thông tin từ ông Lê Quang Bình) chia đều trên đầu người Việt Nam từ Thủ tướng đến kẻ ăn mày, từ người già đến trẻ mới sinh ra đời thì mỗi người phải trả nợ thay cho Vinashin khoảng 1,5 triệu đồng. Con số này đem so với mức thu nhập đầu người vài trăm nghìn một tháng của rất nhiều khu vực nông thôn, miền núi thì đây là con số rất lớn.

Trong báo cáo của Bộ Kế hoạch – Đầu tư thì con số GDP bình quân đầu người năm 2010 tại Việt Nam ước khoảng 1.200 USD, tức GDP của cả nước năm 2010 ước đạt khoảng 103 tỉ USD thì khoảng nợ của Vinashin được xác định tương đương 6% GDP của cả nước năm 2010. Con số GDP trên đây chỉ là ước tính, tức là có thể đạt, có thể không đạt, từ đó tỉ lệ nợ Vinashin trên GDP cả nước có thể cao hơn 6%.

Riêng một mình Vinashin mà khoản nợ đã chiếm tỉ lệ 6% GPD, trong khi đó, khối Doanh Nghiệp nhà nước (DNNN) với tiềm năng tài chính và nguồn lực to lớn nhưng mức độ lợi nhuận thấp, thậm chí có DN lỗ nhiều năm liền. Do đó, mức nợ của các DNNN thực sự là một mối lo ngại cho nền kinh tế. Nhiều người vẫn tự hỏi, liệu có Vinashin nào khác sẽ lại được phát hiện trong thời gian tới?

Làm rõ và xác định chính xác khoản nợ của Vinashin và hướng xử lý những người liên quan thực sự là mối quan tâm hiện nay.

Con số thứ hai: Nợ công

Trong bài viết Tính bền vững của nợ công ở Việt Nam của ông Vũ Thành Tự Anh, hiện nay có hai cách xác định nợ công.

Theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị của LHQ về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công còn bao gồm các nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền.

Còn theo Bộ Tài chính, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Cách tính này hẹp hơn cách tính trên. Do đó con số nợ công theo cách tính của Bộ Tài Chính sẽ khác với con số của một số tổ chức quốc tế.

Theo Cơ quan Tình báo kinh tế (EIU) thì nợ công của Việt Nam đươc thể hiện trong biểu đồ sau đây:

Nợ công và cán cân ngân sách của Việt Nam (2001-2009) - Nguồn: EIU (số liệu 2009 là ước tính)

Trong kỳ họp QH này, Đại Biểu Nguyễn Minh Thuyết nêu ra con số nợ công của Việt Nam hiện nay là 56,7% GDP. Ông không nói rõ là con số này ông dựa trên nguồn nào, nếu dựa theo Bộ Tài Chính thì rất có thể con số nợ công theo EIU sẽ cao hơn. Mặc dù vậy, nếu kết hợp số liệu này với biểu đồ trên thì có thể thấy con số nợ công liên tục tăng và có dấu hiệu tăng nhanh.

Ông Nguyễn Minh Thuyết còn lo lắng rằng “Từ QH khóa XI, khi thông báo nợ công ở mức trên 30%, chúng ta cũng nói là an toàn; khi nào trên 50% mới là đáng báo động. Bây giờ 56,7% vẫn nói trong ngưỡng an toàn thì giới hạn nào là ngoài mức an toàn?”

Theo EIU thì mức nợ công phổ biến ở khoảng 30-40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác. Việt Nam hiện đang cao hơn mức phổ biến này rất nhiều. Do đó những băn khoăn của ông Nguyễn Minh Thuyết xem ra là có cơ sở.

Hơn nữa, trong những năm tới, nếu những dự án đang cần rất nhiều vốn như dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam (56 tỉ USD), dự án xây dựng thủ đô (60 tỉ USD), nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận (hơn 10 tỉ USD)… được thực hiện thì mức nợ công sẽ còn tăng cao.

Giữ ổn định và xác định ngưỡng an toàn của nợ công là rất cần thiết và cần được quan tâm đúng mức. Từ đó sẽ tìm ra cách xử lý và định hướng cho nền kinh tế phát triển bền vững hơn.

Qua những nhận xét và số liệu ở trên, có thể thấy rằng nợ công đang ở mức cao có khả năng còn cao thêm. Đây là một vấn đề lớn, rất cần có những giải pháp ngăn chặn kịp thời. Tấm gương khủng hoảng nợ công ở Hi Lạp  là một ví dụ điển hình.

Vinashin và nợ công là những vấn đề được dư luận rất quan tâm. Những phát hiện này được nêu ra trên diễn đàn QH là đáng hoan nghênh và cần thiết. Đây thực sự là những con số nóng lên từng giờ.

Hy vọng rằng những con số được phát hiện, nêu ra kèm theo đó là những thông điệp mạnh mẽ từ các Đại biểu ngay trong những ngày đầu của kỳ họp QH lần này sẽ được Chính phủ tiếp thu, xử lý và có những giải pháp tích cực hơn trong công tác chỉ đạo điều hành của mình trong thời gian tới.

  • T.M.Q

“Vụ Vinashin: Không lẽ không dám kỷ luật ai?”

Thảo luận tại tổ về kinh tế – xã hội sáng nay (22/10), Phó Ban Tuyên giáo Trung ương Trần Văn Hằng đặt câu hỏi: “Quan trọng nhất là tiếp sau Vinashin sẽ là ai?”. Một số ĐBQH khác cho đây là cơ hội “thể hiện văn hóa từ chức”.

Sai phạm ở Vinashin đã được một số đại biểu Quốc hội ở nhiều tổ nêu ra như một dẫn chứng cho những tồn tại trong quản lý kinh tế, yếu kém ở khu vực DNNN mà các báo cáo lâu nay mới chỉ nói theo kiểu chung chung “có nơi, có chỗ”.

“Việc gì cũng giao hết lên Thủ tướng thì vất vả quá”

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh Lê Quang Bình nhẹ nhàng dẫn bài học về thể chế dân chủ và bầu cử ở Đan Mạch mà vừa rồi QH cử cán bộ sang nghiên cứu.

clip_image002
Đại biểu QH tổ Thái Bình, Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp tục thảo luận thêm ở hành lang. Ảnh: Lê Nhung

(more…)

Vinashin không thể đắm và thư gửi những linh hồn đau khổ

Tác giả: Trực Ngôn

“Con tàu trách nhiệm” Vinashin không thể chìm. Sự thờ ơ, vô cảm, thói vô trách nhiệm trước sinh mạng con người. Những công trình nghìn tỷ mừng Đại lễ vừa khai trương xong đã hỏng. Đó là những day dứt của nhà báo Trực Ngôn khi nhìn lại các sự kiện của tuần qua.

Không được để con tàu “Vinashin trách nhiệm” bị đắm

Cho dù đã có nhiều nỗ lực giải cứu, chưa thể nói con tàu Vinashin đã thoát khỏi nguy cơ bị chìm và mang theo khối tài sản hơn 4 tỷ đô la. Hay sự thật trần trụi như TS Nguyễn Đức Kiên, ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội nói thẳng ra rằng: “Chúng ta tiến hành tái cơ cấu lại Vinashin thì về mặt khoa học coi như chúng ta đã chấp nhận cho Vinashin phá sản, chỉ có vấn đề là mình tuyên bố hay không tuyên bố phá sản mà thôi”. Ông Kiên gọi đây là “phá sản theo kiểu Việt Nam”.

Chúng ta đã từng biết có những cuộc săn tìm những con tàu bị chìm xuống đáy đại dương để vớt của. Đó là những con tàu chở vàng bạc và các đồ vật quí giá trên những con tàu của bọn cướp biển, trên những con tàu của các đội quân xâm lược và trên những con tàu chở hàng hoá đặc biệt bị tại nạn. Theo những thông tin mà tôi được biết thì chưa con tàu nào trong “lịch sử đắm tàu” chìm xuống biển mang theo một khối tài sản lớn như con tàu Vinashin của chúng ta.

Cho đến bây giờ chúng ta phải cay đắng thừa nhận rằng: chúng ta thật khó còn cơ hội để “trục vớt” toàn bộ khối tài sản ấy lên được. Đã từng có những “con tàu” nhỏ hơn Vinashin bị đắm mang theo một khối tài sản nhất định nhưng chúng ta chẳng bao giờ tìm lại được.

Nhưng ai là người chịu trách nhiệm chính về vụ đắm con tàu siêu khổng lồ Vinashin? Cho đến lúc này, chúng ta vẫn chỉ nhận được một nửa câu trả lời. Một nửa câu trả lời hay nói cách khác một nửa sự thật về vụ đắm tàu siêu khổng lồ ấy vẫn còn chìm trong “nước”. Chúng ta vẫn nói: Một nửa chiếc bánh mỳ là chiếc bánh mỳ còn một nửa sự thật không phải là sự thật.

Con tàu trách nhiệm Vinashin đang bị chìm, Ảnh VietNamNet

Trả lời báo chí, ông Vũ Quang Hải (đại biểu Hưng Yên) nói: Sau khi có kết luận của Bộ Chính trị về Vinashin, tôi đã gửi chất vấn tới tổng Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ hỏi rằng tại sao có tới 11 lần thanh tra, kiểm toán vào mà tình hình Vinashin vẫn như thế? Do năng lực thanh tra, kiểm toán yếu hay có tiêu cực gì ở đây?

Kỳ này Chính phủ có báo cáo riêng gửi Quốc hội về Vinashin, tôi chờ đợi một bản báo cáo đầy đủ và trung thực nhất về tình hình Vinashin, nguyên nhân của sự đổ bể, hậu quả đến mức nào và nhất là ai phải chịu trách nhiệm chính về vụ việc này. Cần phải làm rõ trách nhiệm quản lý và trách nhiệm chính trị của Chính phủ, các bộ ngành liên quan, không thể kết luận chung chung được, phải có cá nhân nhận trách nhiệm chính về việc này. (more…)

Không vì dân, mọi chính thể sẽ thất bại

Tác giả: Tuần Việt Nam

Giờ phút giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới thì ngày hôm nay được xem là dấu mốc chuyển giao một chặng đường mới của dân tộc, ngày đặc biệt mà toàn dân tộc đã chờ đợi suốt một nghìn năm nay.

Làm gì để Thăng Long bùng cháy hào khí trong thể kỉ 21. Ảnh: Lê Anh Dũng

(more…)

Lúng túng với giảm nhập siêu

Một trong những nguyên nhân gây ra nhập siêu là do nhu cầu nhập khẩu thiết bị, máy móc phục vụ các dự án ngày một tăng cao, dù Chính phủ đã có những chương trình ưu đãi cho các sản phẩm trong nước…

Kinh nghiệm giảm nhập siêu từ… “hàng xóm”

Thiết bị đồng bộ đa số là từ nhập khẩu

Việc cách đây mấy năm, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) tự sản xuất, cung cấp các thiết bị đồng bộ (EPC) phục vụ cho các dự án đường, xi măng đã thắp lên hy vọng là doanh nghiệp trong nước sẽ dần dần tự thiết kế, tư vấn, sản xuất, lắp ráp vận hành trang thiết bị cho các dự án trong nước cũng như dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Thế nhưng đến nay tình hình vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể. Đặc biệt, sau khi triển khai Chỉ thị số 494 của Chính phủ về việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước khi đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước từ tháng 4-2010, thì các loại máy móc, thiết bị linh kiện nhập khẩu phục vụ cho dự án đầu tư vẫn tiếp tục tăng.

Điều đáng nói, trước đây Chính phủ đã có hẳn một chương trình phát triển ngành cơ khí trọng điểm giai đoạn 2005-2010 và tầm nhìn 2020 với việc đầu tư cả ngàn tỉ đồng, và đến nay theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào “có tới 60-70% mặt hàng là hàng cơ, kim khí trong nước có thể sản xuất được”. Mỗi dự án mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện đầu tư có ít nhất 30-40% giá trị công trình là những sản phẩm cơ khí trong nước có thể sản xuất… Thế nhưng các chủ đầu tư, các nhà thầu vẫn “ưa” xài hàng ngoại hơn!

Theo thống kê, chỉ riêng tám tháng qua, tổng kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị phụ tùng đã tăng 14% so với cùng kỳ năm 2009 và đang là một trong những nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Nhóm hàng này được nhập chủ yếu để tạo tài sản cố định cho các dự án đầu tư. Trong đó, mặt hàng máy móc thiết bị công nghiệp, chiếm tới hơn 30% tổng lượng nhập khẩu hàng năm. (more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: