Hàng loạt nhân sĩ kiến nghị tạm Ngừng khai thác bô-xít

Tác giả: Anh Phương

Sau sự cố bùn đỏ ở Hungary, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và nhiều nhân sĩ – trí thức đã gửi thư lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước kiến nghị về dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.

Mời các bạn xem toàn văn thư kiến nghị của các nhân sĩ – trí thức TẠI ĐÂY.

>> Rà soát thiết kế các hồ chứa bùn đỏ ở Tây Nguyên

>> Đại dự án bô-xít Tây Nguyên và ý kiến nhiều chiều

>> Chuẩn bị kiểm tra thực địa các dự án bôxít

Nghiên cứu lại tổng thể vấn đề bô-xít Tây Nguyên

Với tư cách “những người Việt Nam gắn bó với vận mệnh tồn vong của đất nước”, bà Nguyễn Thị Bình và các nhân sĩ trí thức đã gửi thư tới Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Cùng kí tên trong thư với bà Bình còn có Thiếu tướng Lê Văn Cương, GS Hồ Ngọc Đại, nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang, GS Chu Hảo, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, nhà văn Nguyễn Khắc Mai, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nhà văn hóa Nguyên Ngọc, nhà nghiên cứu Trần Đức Nguyên, nhà thơ Trần Việt Phương, Vũ Quần Phương, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung, TS Tô Văn Trường, GS Hoàng Tụy, và GS Đặng Hùng Võ.

Trong thư, bà Bình và các nhân sĩ trí thức “khẩn thiết yêu cầu” Bộ Chính trị, BCH TƯ Đảng, Quốc hội và Chính phủ xem xét lại việc khai thác bô-xít Tây Nguyên.

Trên cơ sở “lường trước nguy cơ không thể kiểm soát nổi vấn đề bùn đỏ độc hại trong sản xuất alumina ở Tây Nguyên”, các nhân sĩ kiến nghị Đảng và Nhà nước “quyết định cho ngừng ngay việc xây dựng nhà máy chế biến alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng để nghiên cứu tiếp cách xử lý; tạm hủy dự án đang đàm phán tiếp với đối tác nước ngoài về nhà máy Nhân Cơ ở Đắc Nông; tạm thời đình chỉ việc triển khai toàn bộ tổng dự án hiện thời về việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên để tổ chức nghiên cứu lại một cách nghiêm túc và khoa học”.

 

Thảm họa bùn đỏ Hungary.

(more…)

Đề nghị và kêu gọi ký tên ngưng dự án bô-xít Tây Nguyên (dự thảo)

Ngày 05-10-2010 đã xảy ra sự cố vỡ hồ bùn đỏ chứa phế thải từ việc sản xuất alumina cho luyện nhôm của Nhà máy Ajka Timfoldgyar tại vùng Ajka, cách thủ đô Budapest 160 km về phía Tây Nam. Khoảng 1,1 triệu m3 nước thải bùn đỏ từ hồ bị vỡ này đổ xuống các vùng thấp chung quanh rộng gần 40 km2 và một số con sông, trong đó có sông Danub. Trong vùng xảy ra tai nạn có thị trấn Kolontar hoàn toàn bị ngập trong mầu đỏ chết người. Tai nạn này cuốn trôi khoảng 270 căn nhà, phá hủy nhiều cầu đường, làm bị thương (dưới dạng bị bỏng hóa chất) 123 người do các hóa chất độc hại có chất ăn mòn cao trong bùn gây ra, 6 người mất tích, 4 người chết và làm hư hại nhiều xe cộ, tài sản khác. Số người thương vong còn có thể tăng lên do tác động của bùn đỏ chứa hóa chất tiếp tục ngấm vào cơ thể những người đã tiếp xúc với chất thải này khi hồ vỡ.

Chính phủ Hungary coi đây là thảm họa hóa chất thảm khốc nhất trong lịch sử quốc gia này. Thủ tướng Hungary Viktor Orban nhận định thảm họa này có nhiều khả năng do lỗi của con người gây ra, vì xảy ra trong lúc tình hình thời tiết hoàn toàn bình thường, không có mưa và chưa đến mùa tuyết rơi; trước khi xảy ra tai nạn hai tuần, một phái đoàn thanh tra chính phủ đã có chuyến đi kiểm tra hồ và không thấy có dấu hiệu gì khác thường; trong khi đó nhà máy vẫn thường xuyên nhắc lại cam kết với nhà nước hồ bùn đỏ này không nguy hiểm… Thủ tướng Viktor Orban đánh giá thảm họa này lớn gấp nhiều lần so thảm họa tương tự đã xảy ra ở vùng Baia Mare tại Romania năm 2000. Trước tình hình như vậy Thủ tướng Viktor Orban đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong vùng nơi xảy ra thảm họa. Bùn đỏ đang chảy vào sông Danub và sông Raab.

Theo nhận định của người phát ngôn thuộc Cơ quan Quản lý thảm họa của Hungary, ông Tibor Dobson, thảm họa này sẽ có thể ảnh hưởng đến 6 nước hạ lưu là Crotia, Serbia, Bulgaria, Moldova, Ukraina và Romania, và có nguy cơ trở thành thảm họa sinh thái châu lục Âu châu. Tại một số nơi nhiều thủy sản cây cối, hoa mầu và gia súc đã chết. Nhìn chung chưa đánh giá được toàn diện thiệt hại. Quốc vụ khanh Illes nói các đội cứu hộ của Hungary đang làm việc một cách tuyệt vọng, phải mất ít nhất một năm và hàng chục triệu đô-la mới xử lý được; Hungary kêu gọi sự hỗ trợ của Liên minh Châu Âu.

Thảm họa vỡ hồ bùn đỏ Ajka ở Hungary là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với vấn đề hồ bùn đỏ chứa chất thải trong sản xuất alumina ở Tây Nguyên.

Lường trước nguy cơ không thể kiểm soát nổi vấn đề bùn đỏ độc hại trong sản xuất alumina ở Tây Nguyên, chúng tôi, những người Việt Nam gắn bó với vận mệnh tồn vong của đất nước ký tên trong bản kiến nghị này, khẩn thiết yêu cầu

-         Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,

-         Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

-         Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

(1)  Quyết định cho ngừng ngay việc xây dựng nhà máy chế biến alunina ở Tân Rai/Lâm Đồng để nghiên cứu tiếp cách xử lý;

(2)  Tạm hủy dự án đang đàm phán tiếp với đối tác nước ngoài về Nhà máy Nhân Cơ ở Đắc Nông;

(3)  Tạm thời đình chỉ việc triển khai toàn bộ tổng dự án hiện thời về việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên để tổ chức nghiên cứu lại một cách nghiêm túc và khoa học;

(4)  Lập nhóm nghiên cứu độc lập (nhóm đặc nhiệm) gồm những cá nhân có uy tín và có tâm huyết với đất nước trong giới các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế và những người hoạt động xã hội, để tiến hành nghiên cứu lại toàn bộ vấn đề bauxite Tây Nguyên.

(5)  Những kết quả nghiên cứu lại  một cách tổng thể vấn đề bauxite Tây Nguyên của nhóm đặc nhiệm này sẽ được trình bày trước Quốc hội, đồng thời được đem ra trưng cầu ý kiến nhân dân cả nước về đề tài kinh tế – xã hội vô cùng nhạy cảm này để quyết định.

5 yêu cầu nêu trên của chúng tôi dựa vào các lý do sau đây:

Một là: Hầu hết các phản biện trong nhiều cuộc hội thảo được tiến hành năm 2008 và năm 2009 đã chứng minh có sức thuyết phục là việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên để sản xuất alumina như đang triển khai là phi kinh tế, hủy hoại môi trường, để lại nhiều hệ quả khó lường về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, uy hiếp nghiêm trọng an ninh quốc phòng của quốc gia.

Hai là: Chưa nói đến những khoản đầu tư là rất lớn, rất đắt, nhưng khả năng sinh lời trong khai thác bauxite Tây Nguyên lại không hiện thực, thậm chí hầu như chắc chắn là lỗ, việc khai thác bauxite Tây Nguyên để sản xuất quặng sơ chế alumina rất khó cân đối được đầu vào về nguồn nhiên liệu và nguồn nước vốn rất khan hiếm ở Tây Nguyên; việc từ quặng sơ chế alumina để sản xuất ra nhôm hoàn toàn bị loại trừ vì không có nguồn điện. Các phản biện của các cuộc hội thảo năm 2008 và năm 2009 đã chứng minh không thể phản bác được những nhận định này. Việc sản xuất ra alumina với khối lượng một vài triệu tấn/năm là quá nhỏ so với thị trường bauxite/nhôm trên thế giới và trong thực tế chỉ có thể bán được cho một thị trường duy nhất là Trung Quốc, vì cước phí vận tải biển rất cao; tình hình này sẽ tạo ra nguy cơ phụ thuộc kinh tế và chính trị rất bất lợi cho đất nước. Nếu định nâng sản xuất alumina lên 5 – 6 triệu tấn/năm vào năm 2020 như dự kiến, thì đấy vẫn chỉ là một thị phần rất nhỏ trong thị trường bauxite/nhôm thế giới và cũng vẫn chỉ có thể bán cho một người mua duy nhất là Trung Quốc, vì xu thế chung trên thế giới hiện nay là sản xuất nhôm ngay tại chỗ khai thác bauxite để giảm chi phí vận tải. Cứ sản xuất 1 tấn alumina sẽ tạo ra 3 tấn bùn thải có chứa hóa chất độc hại; càng sản xuất nhiều đòi hỏi phải có hồ chứa bùn đỏ càng lớn, nguy cơ thảm họa môi trường càng lớn. Không thể hình dung nổi nguy cơ thảm họa môi trường của một hồ chứa bùn đỏ hàng triệu hay hàng chục triệu m3 treo lơ lửng trên đầu đồng bằng sông Đồng Nai và miền Bắc Nam Bộ, nơi có hàng chục triệu dân cư sinh sống. Tây Nguyên là vùng đầu nguồn của những con sông huyết mạch và có tầm ảnh hưởng quan trọng tới các vùng kinh tế trọng yếu của đất nước. Trong khi đó, do tác động biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai ở miền Trung và ở Tây Nguyên xảy ra với tần số và cường độ ngày càng lớn; chưa kể đến tình hình khí hậu và kiến tạo địa hình nơi khai thác bauxite ở Tây Nguyên khắc nghiệt hơn rất nhiều (mưa cường độ lớn và tập trung trong mùa mưa, địa hình đất đai có độ dốc cao…) so với vùng Ajka ở Hungary. Ajka là vùng tương đối thấp, trong khi các vùng dự định khai thác bauxit ở Tây Nguyên đều ở trên cao, thuộc vùng Nam Trường Sơn với sườn phía Đông dốc đứng. Các hồ chứa bùn đỏ ở đây sẽ là những quả bom độc treo trên đầu hàng nhiều chục triệu người với tai họa khôn lường. Ngoài ra khả năng quản lý, thực thi pháp luật, lực lượng vật chất kỹ thuật phòng hộ chống thiên tai…  của ta hiện nay chưa thể so sánh với Hungary.

Ba là: Các khảo sát nghiêm túc của  nhiều nhà khoa học và kinh tế đã được trình bầy trong các hội thảo năm 2008 và năm 2009 và đã được nêu lên trong nhiều kiến nghị gửi đến Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ cho thấy: Hiện tại và trong một vài năm tới hoàn toàn bế tắc chưa có thể giải quyết được vấn đề vận tải (dù là phương án đường bộ hay đường sắt) và cảng cho việc sản xuất và xuất cảng alumina. Các tuyến đường bộ và cảng được dự kiến trong các dự án của Tập đoàn Than & Khoáng sản (TKV) nếu định thực hiện cũng phải mất một vài năm và phải chi thêm những khoản đầu tư rất lớn, vì những tuyến đường bộ hiện có định đưa vào sử dụng đều hẹp, nhiều cua gấp tay áo và có nhiều đèo dốc cao, không thể sử dụng cho xe vận tải lớn với trọng tải và lưu lượng lớn; nếu thực hiện phương án vận tải đường sắt thì còn phải chi thêm nhiều tỷ đô-la và cũng sẽ mất nhiều thời gian hơn nữa. Có thể khẳng định, ít nhất là trong một, hai năm tới hoặc lâu hơn vấn đề vận tải hoàn toàn bế tắc. Điều này cũng có nghĩa nhà máy sản xuất alumina Tân Rai nếu làm xong, cũng có thể có nguy cơ phải nằm đắp chiếu để đấy một thời gian.

Bốn là: Giả thiết rằng các tuyến đường vận tải và cảng đã sẵn sàng, một giả thiết hoàn toàn không tưởng, chi phí cho vận tải  chở các nguyên liệu và than lên núi cho sản xuất và chở alumina xuống núi cho xuất cảng rất lớn, vì đoạn đường quá dài (khoảng gần 200 km hoặc hơn nữa, tùy phương án lựa chọn), sẽ đội giá thành lên rất cao. Điều này có nghĩa chỉ riêng vấn đề chi phí vận tải trên bộ để xuất cảng theo giá FOB đã gây ra nguy cơ thua lỗ lớn. Luận chứng này cũng đã được chứng minh trong nhiều tham luận khoa học có liên quan trong suốt năm 2008 và năm 2009.

Năm là: Nhữngvấn đề về văn hóa xã hội, từ đó dẫn đến những vấn đề về dân tộc ở Tây Nguyên vừa qua đã phá phức tạp, hoàn toàn chưa thể coi là ổn định; nay thêm dự án bauxit với nhiều tác hại đã chỉ ra, chắn chắn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống mọi mặt của các dân tộc tại chỗ, càng làm suy thoái văn hóa các tộc người Tây Nguyên, làm rắc rối thêm các vấn đề xã hội, sẽ khiến tình hình trầm trọng hơn, cả về an ninh và quốc phòng ở vùng chiến lược này.

Sáu là: Với 4 lý do trình bày trên, chúng tôi thấy việc thực hiện 5 yêu cầu nêu trong kiến nghị này là phương án an toàn nhất, có thể giúp đất nước có đủ thời gian tìm ra những phương án tối ưu nhất trong việc xem xét vấn đề bauxite Tây Nguyên nói riêng và cho vấn đề phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên nói chung. Nhìn lâu dài về tổng thể,  5 yêu cầu nêu trong kiến nghị này còn là phương án kinh tế nhất, với nghĩa các tổn thất do phải tạm hủy ngay hoặc thậm chí có khi phải đi tới kết luận sẽ phải hủy hoàn toàn việc khai thác bauxite Tây Nguyên, dù sao sẽ vẫn còn “rẻ” hơn cái giá phải trả không thể lường hết được và thậm chí không thể cứu vãn được cho những hệ quả và thảm họa có thể xảy ra.

Thưa các vị lãnh đạo nhà nước,

Chúng tôi hiểu thực hiện lời thỉnh cầu khẩn thiết này có nghĩa là phải thực hiện một quyết định rất đau đớn chưa hề có trong lịch sử kinh tế nước ta và sẽ là một tổn thất lớn mà nền kinh tế nước ta phải chịu đựng – nhất là Nhà máy chế biến alumina Tân Rai đã hoàn thành được một phần lớn và đã làm được nhiều việc quan trọng trong triển khai dự án Nhà máy Nhân Cơ. Chỉ có lòng dũng cảm và ý thức trách nhiệm tuyệt đối đối với vận mệnh quốc gia của các vị cùng với sự thông cảm của đồng bào cả nước mới đủ sức đi tới thực hiện quyết định khó khăn này. Song thà chịu như vậy còn hơn để lại hậu họa khôn lường cho mai sau, kính mong Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ xem xét và chấp nhận.

Chúng tôi đồng thời kêu gọi đồng bào trong cả nước và sống ở nước ngoài đồng thanh lên tiếnh ủng hộ 5 đề nghị cụ thể nêu trên và ký tên vào kiến nghị này. Thư từ xin gửi về theo địa chỉ bauxitevn@gmail.com có kèm theo địa chỉ cư trú và số điện thoại của quý vị. Để bảo đảm bí mật về sự riêng tư, khi đưa danh sách lên trang BVN, các thông tin này sẽ được lược bỏ.

Làm tại Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 2010

Ký tên:

GS Hoàng Tụy,

Trần Việt Phương,

Nhà văn Nguyên Ngọc,

TS Lê Đăng Doanh,

GSTS Chu Hảo,

Phạm Chi Lan,

Nguyễn Trung,

TS Nguyễn Quang A,

GS Nguyễn Huệ Chi,
Nhà giáo Phạm Toàn,

GSTS Nguyễn Thế Hùng

Trần Đức Nguyên

BS chú thích: đây mới là bản thảo cuối cùng trước khi chính thức được đăng trên trang boxitvn. Có thể sẽ có chút ít thay đổi về nội dung, thành phần ký tên đầu tiên.

(Nguồn: Anhbasam.com)

Vì sao Mỹ không dự hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN ở VN?

Thưa quý vị, Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 42 (AEM 42) đã khai mạc ở Đà Nẵng hôm 25/8 với sự tham gia của các bộ trưởng kinh tế của 10 nước ASEAN và 8 đối tác của khối gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, New Zealand, Ấn Độ, Liên hiệp châu Âu và Nga. Tuy nhiên, sự vắng mặt của Hoa Kỳ lần này đã khiến một số chuyên gia, trong đó có ông Ernest Bower, Cố vấn cao cấp đồng thời là Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Chiến lược ở Washington, đặt dấu hỏi về chính sách thương mại ở Đông Nam Á cũng như cam kết chính trị đối với vấn đề quan hệ kinh tế ở tầm khu vực của Hoa Kỳ. Mời quý vị theo dõi tường thuật của Nguyễn Trung trong chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’ tuần này.

Trả lời VOA Việt Ngữ, ông Ernest Bower cho rằng sự vắng mặt của Washington tại cuộc họp của AEM 42 là ‘đáng chú ý’.

Ông nói: ‘Hiện giờ, Hoa Kỳ hiện diện tại mọi cuộc họp về ngoại giao và an ninh của ASEAN. Nhưng một trong những lĩnh vực quan trọng nhất mà Hoa Kỳ có nhiều quyền lợi là thương mại và hợp tác kinh tế thì Washington lại không cử bộ trưởng hay đại diện nào tới dự. Tôi cho rằng đây là một vấn đề quan trọng phải chỉ ra.’ (more…)

Nức lòng sự kiện GS Châu, tĩnh tâm ngẫm về vận nước

Tác giả: Nguyễn Trung

Tin giáo sư Ngô Bảo Châu được tặng Huy chương Fields cho thành quả khoa học của mình là tin vui lớn của “làng toán học thế giới” nói chung và là vinh dự lớn của giáo sư Ngô Bảo Châu nói riêng. Tin vui lớn này mang lại cho trí tuệ Việt Nam niềm tự hào xứng đáng.

Nguyên PTT Vũ Khoan ngẫm về thành quả của Ngô Bảo Châu
Ngô Bảo Châu – Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam!

Nói thực lòng, càng tự hào bao nhiêu tôi càng cảm thấy đau lòng bấy nhiêu về thực trạng hiện nay của nền giáo dục nước nhà, nhất là trong đời thường hàng ngày tôi được tiếp xúc với biết bao nhiêu học sinh và các nam nữ thanh niên giầu nghị lực đang ngày đêm khát khao những điều kiện học tập không thể thiếu được cho tương lai của chính họ, cho tiền đồ của đất nước.

Thiết nghĩ, đây không phải là lúc ta thán, mà nên là  nhân dịp này mọi người trong cả nước nhắc nhở nhau đem tất cả ý chí và nghị lực của mình làm lành mạnh nền giáo dục nước nhà, dành cho sự nghiệp phát triển nền giáo dục nước nhà mọi hy sinh, cống hiến, làm cho nền giáo dục nước nhà đảm đương được nhiệm vụ trồng người mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay và tương lai đang thôi thúc rất gay gắt!

Sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước, chưa bao giờ nước ta đứng trước những nguy cơ và thách thức lớn như hiện nay, cũng chưa bao cơ hội mở ra cho nước ta phấn đấu trở thành một nước phát triển có thể đứng vào hàng ngũ các quốc gia tiên tiến lớn như hiện nay. Chìa khóa để nước ta chiến thắng mọi nguy cơ và thách thức, để vươn lên được con đường đi vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, không thể là cái gì khác ngoài việc thực hiện một nền giáo dục tiên tiến để phát triển con người Việt Nam trên nền tảng những giá trị cao đẹp nhất của tự do và dân chủ. Một nền giáo dục như thế là điều kiện tiên quyết hàng đầu cho xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giầu mạnh, để Việt Nam có thể trở thành một đối tác tin cậy, có tín nhiệm với tất cả các cuốc gia trong cộng đồng quốc tế, để Việt Nam có thể đi cùng với cả thế giới tiến bộ trong thế giới ngày nay.

Xin chúc mừng GS Ngô Bảo Châu!

(more…)

Biển Đông: Hòa bình song phương? Đa phương? Quốc tế hóa?

Tác giả: Nguyễn Trung

Tạm gạt tính chất cứng rắn gần như là thịnh nộ trong phát biểu của Bộ trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì sang một bên, để tìm hiểu một cách tỉnh táo mọi vấn đề nằm trong ý kiến ông Dương nêu lên, chúng ta sẽ thấy gì?

>> Trung Quốc ‘phản kích’ Mỹ về vấn đề Biển Đông

>> Ngoại trưởng Mỹ phản đối sử dụng vũ lực ở Biển Đông

Sau họp diễn đàn ARF 17 tại Hà Nội, trong một thông cáo đăng trên mạng Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 26/7, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì nói: “Nếu  Biển Đông trở thành một vấn đề quốc tế hoặc đa phương, sẽ chỉ khiến cho vấn đề này trở nên tồi tệ hơn và giải pháp sẽ khó khăn hơn… …Thực tiễn quốc tế cho thấy cách tốt nhất để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đó là các bên liên quan đàm phán song phương trực tiếp”. Trong thông cáo này, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì còn nhấn mạnh, đại ý: Những đòi hỏi có vẻ vô tư về tầm quan trọng và sự khẩn thiết phải duy trì tự do lưu thông hàng hải, về phản đối việc gây áp lực và  việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông… chỉ là nhằm “tấn công” vào Trung Quốc, tạo cho cộng đồng quốc tế một ấn tượng sai lầm rằng tình hình trên Biển Đông là một nguyên cớ khiến cho tình hình trở nên nghiêm trọng…

Nói ngắn gọn, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì, với lập luận “chống quốc tế hóa hay đa phương hóa vấn đề Biển Đông”, ông dứt khoát bác bỏ đàm phán đa phương, và chỉ thừa nhận đàm phán song phương giữa Trung Quốc với từng bên các nước thành viên ASEAN cho việc tìm kiếm giải quyết tranh chấp cho các vấn đề trong khu vực biển này.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì. Ảnh LAD

Hãy tạm gạt tính chất cứng rắn gần như là thịnh nộ trong phát biểu của ông Dương sang một bên, để tìm hiểu một cách tỉnh táo mọi vấn đề nằm trong ý kiến ông Dương nêu lên, chúng ta sẽ thấy gì?

Song phương không thể giải quyết ổn thỏa vấn đề Biển Đông

Trước hết, Biển Đông có 3 vấn đề chính là: tranh chấp chủ quyền về biển – đảo, tự do lưu thông hàng hải quốc tế, hợp tác hòa bình trong khu vực. Do đặc thù của chúng, cả 3 loại vấn đề này không có một vấn đề nào có thể giải quyết ổn thỏa trên cơ sở song phương.

Lấy ví dụ, thực tiễn đàm phán về giải quyết tranh chấp chủ quyền biển – đảo trong Biển Đông cho thấy một thỏa thuận, dù loại gì, giả thử đạt được giữa một bên là Trung Quốc với một bên là một nước ASEAN “A” nào đó, sẽ thường xuyên đặt ra tình huống gây nên những nghi kỵ, hoặc thậm chí sự phản đối của các nước ASEAN “B”, “C”, “D”… Cách làm song phương như vậy dứt khoát dẫn đến mầm mống những tranh chấp mới trong nội bộ cộng đồng ASEAN và chung cuộc thậm chí có thể hủy hoại cộng đồng ASEAN.

Thực tiễn này không phải là sự tưởng tượng ra từ không khí, mà đã xảy ra trong thực tế, khi Trung Quốc năm 2004 ký thỏa thuận với Philippnes tiến hành thăm dò địa chấn khu vực đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. Ký kết tay đôi này đã bị Việt Nam phản đối, được giải quyết một cách vớt vát là sau đó cả Trung Quốc và Philippnes đều đồng ý để Việt Nam cùng tham gia. Nhưng hậu quả không thể khắc phục được là ký kết thăm dò địa chấn này đã làm giảm sút đáng kể (gần như là vô hiệu hóa trên thực tế – de facto) Tuyên bố của các bên về Nguyên tắc ứng xử  ở Biển Đông (DOC) được ký kết năm 2002 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.

Ký kết thăm dò địa chấn này đã gây chia rẽ nội bộ ASEAN, sau đó còn gây chia rẽ sâu sắc nội bộ quốc gia Philippines. Phe đối lập chống Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo đặt vấn đề nghi vấn có sự tham nhũng lớn cho ký kết này trích từ những khoản viện trợ và đầu tư rất lớn lên đến hàng tỷ đô-la trong chuyến đi thăm Philippines của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào năm 2005[1]. Phía Trung Quốc ca ngợi chuyến đi thăm này mở ra một thời kỳ hoàng kim quan hệ song phương Trung Quốc – Philippines…

Chỉ một ví dụ này đủ cho thấy việc củng cố sự bền vững của cộng đồng ASEAN nhạy cảm và khó khăn như thế nào. Mà trong thực tiễn tồn tại của cộng đồng ASEAN cho đến nay có vô vàn ví dụ như thế.

Ngoại trưởng Mỹ đã tuyên bố “lợi ích quốc gia” của Mỹ tại Biển Đông và khuyến khích hợp tác đa phương giải quyết vấn đề.

Kết luận có thể rút ra: Bất kể một ký kết tay đôi nào giữa một bên là Trung Quốc và một bên là một nước thành viên ASEAN về những vấn đề có liên quan đến Biển Đông đều có nguy cơ gây nghi kỵ giữa các nước ASEAN với nhau và làm suy yếu cộng đồng này, điều này đồng nghĩa làm tăng thêm nguy cơ gây mất hòa bình và ổn định trong khu vực. Lẽ đơn giản là vấn đề chủ quyền về biển đảo cực kỳ nhậy cảm đối với toàn khu vực và thường xẩy ra tranh chấp giữa ba nước với nhau trở lên.

Đấy là chưa nói đến chuyện dứt dây động rừng, đến rất nhiều vấn đề khác hệ trọng ở Biển Đông chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở hợp tác đa phương giữa toàn thể các nước trong khu vực.

Khỏi phải bàn tuyến hàng hải Malacca đi qua Biển Đông chiếm khoảng gần 1/3 vận tải biển của thương mại thế giới, phần lớn các hợp tác kinh tế trên Biển Đông là những hợp tác song phương hoặc đa phương giữa một nước thành viên ASEAN với một hay nhiều nước bên thứ ba khác ngoài khu vực. Biển Đông là một biển mở ra Thái Bình Dương, nếu nhìn theo khía cạnh hòa bình và an ninh khu vực liên quan mật thiết với hòa bình và an ninh thế giới, sẽ càng rõ bất kể một giải pháp song phương nào cho bất kỳ một vấn đề gì giữa một bên là Trung Quốc và một bên là một nước thành viên ASEAN đều không thể đáp ứng được những đòi hỏi của cuộc sống đặt ra.

Lời nói và việc làm

Hai là: Không có cách gì có thể biện minh cho lập luận của Ngoại trưởng Dương: Những đòi hỏi có vẻ vô tư về tầm quan trọng và sự khẩn thiết phải duy trì tự do lưu thông hàng hải, về phản đối việc gây áp lực và  việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông… chỉ là nhằm “tấn công” vào Trung Quốc.

Thực tế trên Biển Đông cho đến nay chưa hề xảy ra một cuộc tấn công nào từ các nước ASEAN dù bằng lời nói hay bằng hành động nhằm vào Trung Quốc. Ví dụ, kể cả những lúc một nước ASEAN nào đó phải có lời nói phản ứng gay gắt nhất với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông, thì hầu như chỉ có một nội dung là phản đối Trung Quốc dùng vũ lực lấn chiếm vùng mới trên Biển Đông, hay uy hiếp các hoạt động kinh tế trên Biển Đông chống lại một nước ASEAN nào đó. Tiếc rằng phía Trung Quốc là nguyên nhân duy nhất làm cho những lời phản đối này gần đây ngày càng nhiều.

Cũng chưa có một cuộc tấn công nào bằng hành động của một nước ASEAN thành viên nào chống lại Trung Quốc trên Biển Đông, mà chỉ có này lúc khác – ví dụ đối với Việt Nam là trường hợp năm 1988 – một nước thành viên ASEAN nào đó phải dùng vũ lực chống trả sự lấn chiếm mới của Trung Quốc, và phải thừa nhận rằng thua trận và mất thêm vùng mới thường thuộc về các nước thành viên ASEAN.

Ngoài ra, hàng năm còn biết bao nhiêu sự kiện trên Biển Đông như Trung Quốc tuyên bố vùng và thời hạn cấm đánh bắt cá, đuổi bắt ngư dân, có năm con số ngư dân bị bắt lên đến hàng trăm người, đòi tiền chuộc, đánh đắm nhiều tầu cá của họ, gây sức ép không cho nước bên thứ ba hợp tác kinh tế với các nước ASEAN trên Biển Đông – nổi bật nhất là vụ cưỡng bức 2 tập đoàn BP và Exxon phải hủy hợp đồng hợp tác với Việt Nam, cho tầu chiến quấy rối và uy hiếp trên Biển Đông, tuyên bố và có những hoạt động coi “vùng lưỡi bò” chiếm khoảng trên 80% diện tích Biển Đông là thuộc chủ quyền Trung Quốc, vân… vân…

Gần đây, hầu hết các nước thành viên ASEAN rất lo ngại trước sự uy hiếp trực tiếp của lực lượng hải quân Trung Quốc đang mạnh lên một cách áp đảo trên Biển Đông – chẳng khác gì như Trung Quốc mang đá chọi với trứng! Dẫn chứng cụ thể là nhiều nước ASEAN tuy nghèo, nhưng quá lo, nên vẫn phải tăng thêm tiền mua sắm vũ khí để tự vệ.

Cả lời nói, cả việc làm, Trung Quốc đang gây ra cho các nước ASEAN nhiều mối lo lớn thật sự, bất chấp các lời  tuyên bố thiện chí của Trung Quốc – đối với Việt Nam là 16 chữ.

Trong tình hình thực tế như vậy, làm sao có thể giải thích cho lập luận trên đây của Ngoại trưởng Dương? Trong tình hình như vậy, duy trì hòa bình, duy trì lưu thông hàng hải, loại bỏ đe dọa sử dụng bạo lực hay loại bỏ sử dụng bạo lực trên Biển Đông chẳng lẽ không đáng mong muốn hay sao?

Ba là: Lịch sử quan hệ quốc tế, dù là trong chiến tranh giữa các nước lớn, dù là trong các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, dù là trong các tranh chấp tập hợp ngoại bang hay chư hầu để củng cố thế lực của mình, chia để trị, bẻ từng chiếc đũa trong cả bó đũa… là những thủ đoạn cổ xưa nhưng vẫn đắc dụng cho đến tận bây giờ.

Trung Quốc hiển nhiên rất mạnh, mạnh áp đảo so với từng nước và so với tất cả các nước trong khu vực Biển Đông cộng lại. Nếu Trung Quốc cũng theo đuổi các mục tiêu hòa bình, hợp tác, hữu nghị, lại trong tình hình hầu như không một nước nào trong cộng đồng ASEAN có mưu đồ hay có khả năng thôn tính hay lật đổ Trung Quốc, không có một nước nào trong cộng đồng này có khả năng riêng lẻ từng nước hay co cụm lại với nhau để tranh giành bất cứ vấn đề gì với Trung Quốc, vậy nguyên do gì khiến Trung Quốc cứ phải khăng khăng giải pháp song phương “Trung Quốc + 1 ASEAN” trong tìm kiếm những giải pháp cho các vấn đề của Biển Đông?

Khỏi phải nói dài dòng: thỏa thuận song phương giữa mạnh và yếu, bao giờ thua thiệt cũng thuộc về yếu. Cũng khỏi phải chứng minh: chia để trị bao giờ cũng rất khả dụng cho nước mạnh theo đuổi những mưu đồ lớn.

Hợp tác đa phương phải gắn với minh bạch

Nói đi cũng phải nói lại: Hợp tác và giải pháp đa phương không thôi thật ra cũng chưa đủ. Điều quyết định là hợp tác và giải pháp đa phương này phải công khai minh bạch, và phải theo đuổi những mục đích hòa bình, hữu nghị, hợp tác rất công khai minh bạch cho Biển Đông, không thể nói một đằng làm một nẻo được. Nếu có sự công khai minh bạch như vậy, thì có gì phải chống giải pháp đa phương trong những vấn đề của Biển Đông?

Đấy là chưa nói hợp tác và giải pháp đa phương và “quốc tế hóa” là hai vấn đề khác nhau. “Quốc tế hóa” hay “không quốc tế hóa” còn thuộc về chủ quyền và quyền quyết định của từng nước hữu quan trong Biển Đông. Tuy nhiên tự dưng đem vấn đề “quốc tế hóa” ra để làm lý do chối bỏ hợp tác và giải pháp đa phương cho những vấn đề của Biển Đông câu chuyện lại có ý đồ và nội dung khác.

Lẽ phải cần được tôn trọng, còn câu chuyện đang nóng lên hiện nay trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc là chuyện của hai nước với nhau, không thể lấy chuyện của hai nước áp lên những vấn đề sống còn của các nước trong khu vực Biển Đông.

Nội dung và mức độ thịnh nộ trong câu nói của Ngoại trưởng Dương sau cuộc họp ARF 17 đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 26-07-2010 tự nó làm rõ ra nhiều điều./.

Tài liệu tham khảo:

1. “China and the Philippines: Moving Beyond the South China Sea Dispute”, China Brief, volume 6, Isue 17, May 9 -2007.

Con đường dân chủ gian truân của đất nước “nụ cười”

Tác giả: Nguyễn Trung

Trong tháng 3 và mãi đến gần hết tháng 5 của năm này, “nụ cười” đã tắt trên đất Thái Lan. Những tháng nóng bỏng mùi khói xăng và thuốc súng này đã cướp đi hơn 80 sinh mạng và làm bị thương khoảng 1400 người…

Diễn biến của sự kiện

Người Thái Lan đặt tên hiệu cho nước mình như vậy, để quảng bá du lịch đã đành, song người Thái Lan, với nghĩa tìm hiểu tính cách một dân tộc, đúng là rất hiền hoà, mến khách. Người nước ngoài, nhất là nếu có dịp đi về các vùng đồng nội của Thái Lan, chắc chắn sẽ cảm nhận được sâu sắc điều này.

Nhưng trong tháng 3 và mãi đến gần hết tháng 5 của năm này, “nụ cười” đã tắt trên đất Thái Lan. Những tháng nóng bỏng mùi khói xăng và thuốc súng này đã cướp đi hơn 80 sinh mạng và làm bị thương khoảng 1400 người (chưa có số liệu thống kê cuối cùng), làm 25 000 người mất việc làm, GDP 264 tỷ USD của Thái Lan năm nay sẽ giảm mất khoảng 0,5%… Đấy là những tổn thất của đụng độ kéo dài khoảng 9 tuần lễ giữa một bên là những người biểu tình áo đỏ và một bên là lực lượng cảnh sát và quân đội dẹp biểu tình. Vết thương chính trị – xã hội không đo đếm được.

Xin nói ngay, không kể về trước, chỉ tính từ 1973, năm có cuộc nổi dậy của phong trào sinh viên chống chính phủ quân phiệt Thanom Kittikachorn khiến ông ta và một số tướng lĩnh phải đi cư trú ở nước ngoài, đời sống chính trị Thái Lan cho đến nay có thêm 6 – 7 cuộc đụng độ đẫm máu tiếp theo nữa. Có thể nói người Thái Lan, cả về phía người dân đi biểu tình cũng như về phía trấn áp của chính phủ, đã có “kinh nghiệm” về những cuộc đụng độ như vậy; nghĩa là cả hai phía đều có ý thức ở mức độ khác nhau nào đó tìm cách hạn chế thương vong, song đổ máu lớn vẫn cứ xảy ra trong những tuần vừa qua.

Nhìn lại, có lẽ chỉ có thể nói được là “Cảm ơn chúa! Nếu đụng độ như thế xảy ra ở một nước nào khác trong khu vực, máu xương có lẽ sẽ thành sông núi!?..” Vụ Thiên An Môn khủng khiếp năm 1989 roi rói trong ký ức cho đến ngày nay vẫn còn khiến nhiều người rùng mình…

Tính từ năm 1932, ông Abhisit Vejjajiva là thủ tướng thứ 27 của Thái Lan, là kết quả cuộc đảo chính quân sự tháng 09-2006 lật đổ thủ tướng Thaksin Shinawatra với cớ tham nhũng. Đây là cuộc đảo chính lần thứ 24, cũng tính từ năm 1932.

Củng cố cho kết quả đảo chính và ngăn chặn nguy cơ Thaksin quay trở lại qua con đường bầu cử, một nhóm chính khách và đại gia kinh tế thân Hoàng gia lập ra “Liên minh nhân dân vì dân chủ” (PAD – People’s Alliance for Democracy), dấy lên phong trào biểu tình của những người áo vàng (mầu của Hoàng gia), với kết quả Toà án Hiến pháp Thái Lan tháng 2-2010 chính thức loại bỏ Thaksin ra khỏi quyền lực và phong toả tài sản 1,4 tỷ USD của ông ta. Phe cánh đứng về phía làm đảo chính 9-2006 được củng cố và thắng thế.

Tình hình Thái Lan bất ổn.

Trước tình hình như vậy, nhóm chính khách và các đại gia có lợi ích khác với phe cánh PAD hoặc thân với phe cánh Thaksin đã lập ra “Mặt trận thống nhất vì dân chủ, chống độc tài” (UDD – “United Front for Democracy against Dictatorship”, được đảng đối lập “Pheua Thai” (Đảng vì nước Thái) trong quốc hội ủng hộ. UDD đã dấy lên phong trào biểu tình của những người áo đỏ.

Thoạt  đầu là ngày 12-03-2010 những người áo đỏ do UDD lãnh đạo kéo nhau về Bangkok tiến hành biểu tình chống chính phủ Abhisit Vejjajiva vì lý do độc tài và đòi giải tán quốc hội, sớm tổ chức bầu cử mới. Từ cuối tháng 3-2010 bắt đầu có đổ máu, sau đó ngày càng nhiều các cuộc đụng độ đẫm máu với quân đội và cảnh sát, kéo dài đến ngày 19-05-2010, ngày các cuộc biểu tình áo đỏ chấm dứt.

Thời kỳ cao điểm các cuộc biểu tình của những người áo đỏ bắt đầu từ cuối tháng 3-2010, số người tham gia lên tới hàng vạn (có báo nói tới con số hàng chục vạn), phần lớn là nông dân vùng Bắc và Đông Bắc Thái Lan, ngoài ra còn có một bộ phận nhất định là dân thành thị cùng tham gia. Họ chiếm giữ và lập hàng rào bằng gậy gộc và lốp xe để cố thủ nhiều khu vực quan trọng trong trung tâm thủ đô Bangkok, làm tê liệt hầu hết mọi hoạt động của thủ đô và của chính phủ, đốt phá nhiều trung tâm buôn bán, khách sạn, ngân hàng… Đặc biệt là cuộc trấn áp đẫm máu ngày 10-04-2010 làm chết 21 người biểu tình và 4 lính, tình hình càng trở nên căng thẳng hơn.

Sự chống đối của biểu tình áo đỏ càng quyết liệt hơn, khiến chính phủ Abhisit buộc phải cam kết sẽ giải tán quốc hội và tổ chức bầu cử mới vào ngày 14-11-2010. Tuy nhiên, tình hình không vì thế mà dịu đi; trấn áp từ phía quân đội và đốt phá từ phía áo đỏ chống lại tiếp tục gia tăng.

Các tin tức trên báo chí Thái Lan trái ngược nhau. Có tin nói những đại diện của áo đỏ “già néo đứt dây”, song luồng tin khác lại nói những người này không tin vào cam kết của chính phủ Abhisit, do đó đàm phán thất bại. Luồng tin khác nữa lại nói có một nhóm cứng rắn trong lãnh đạo của áo đỏ không tán thành đàm phán…

Tuy nhiên một sự thật xảy ra trong tình hình hỗn loạn này là xuất hiện ngày càng nhiều những vụ bắn tỉa của các tay súng áo đen, gây nhiều thương vong. Người biểu tình áo đỏ nói các tay súng áo đen là lính đặc nhiệm của chính phủ, phía chính phủ lại nói đó là những kẻ khủng bố trá hình thuộc phe áo đỏ… Trong những người bị chết vì bắn tỉa như vậy có tướng một sao quân đội Thái Lan Khattiya Sawasdipol tham gia lãnh đạo phong trào biểu tình áo đỏ, những người của chữ thập đỏ đang làm nhiệm vụ cứu thương tại chùa Thum Wat… Tình hình dẫn tới thủ tướng Abhisit rút lại đề nghị giải tán quốc hội của mình, tuyên bố giới nghiêm và trừng trị quyết liệt hơn.

Ngày 13-05-2010 quân đội trấn áp thẳng tay, hơn 30 người bị bắn chết, đồng thời ra lệnh những người biểu tình áo đỏ phải rút khỏi Bangkok trước 15 giờ ngày 17-05-2010. Ngày 19-05-2010 tiếp tục xẩy ra đổ máu và thương vong lớn, các lãnh tụ UDD kêu gọi những người biểu tình áo đỏ rút lui.

Cuộc biểu tình của người áo đỏ do UDD lãnh đạo chấm dứt, nhưng chính trường Thái Lan xuất hiện những rạn nứt mới chưa hề có, với những hệ quả khó tiên liệu.

Con đường dân chủ gian truân

Thái Lan mở cửa ra thế giới bên ngoài rất sớm. Năm 1826 đã ký kết quan hệ ngoại thương và ngoại giao với Anh, năm 1833 có quan hệ ngoại giao với Mỹ, chính sách ngoại giao khôn khéo lợi dụng được mọi tình huống đã giúp cho Thái Lan đến nay chưa bị nước ngoài nào đô hộ1.

Cuộc đảo chính quân sự năm 1932 chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế để chuyển sang chế độ quân chủ lâp hiến theo phong cách các nước phương Tây. Cuộc nổi dậy năm 1973 của phong trào sinh viên – bắt đầu từ trường đại học Thamasat – chấm dứt được chính quyền quân phiệt Thanom Kittikachorn. Cuộc nổi dậy này mở đường cho những nỗ lực xây dựng thể chế dân chủ, song bị đàn áp đẫm máu năm 1976.

Tuy nhiên từ sau 1976 trở đi, chế độ quân chủ lập hiến được tái lập buộc phải có nhiều cải cách mới, mô hình dân chủ đa đảng theo phong cách các nước phương Tây ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc ở Thái Lan, một số quyền dân chủ, tự do ngày càng được khẳng định rõ hơn trong các hiến pháp khác nhau của từng thời kỳ (tính theo các cuộc đảo chính). (Craig J. Reynolds). Song tất cả những gì Thái lan đạt được cho đến hôm nay chỉ là một nền dân chủ dang dở (Nguyễn Trung), hay là một nền dân chủ dễ vỡ

Không thể không đặt ra câu hỏi: Cái gì là nguyên nhân chính của tình trạng này?

Cuộc  đảo chính 09-2006 và cuộc biểu tình áo đỏ từ  tháng 3 đến tháng 5-2010 có thể được xem là  hệ quả tất yếu toàn bộ quá trình phát triển của Thái Lan từ 1932 tới nay, chứa đựng mọi yếu tố của toàn bộ thời kỳ phát triển này và tạo nên thực trạng Thái Lan hiện nay. Vì những lý do này, những diễn biến ở Thái Lan hiện tại, có thể đưa ra nhiều lời giải.

Điểm nổi bật thứ nhất của chính phủ Thaksin là gia đình ông ta và phe cánh giầu lên nhanh, có nhiều phi vụ buôn bán lớn, điển hình là việc bán cổ phần của mình trong công ty Telecom Shin Corp cho Singapore. Phe chống đối còn tố cáo Thaksin là “pro” quan hệ thương mại Thái Lan – Trung Quốc và kiếm được nhiều mối lợi riêng.

Điểm nổi bật thứ hai có lẽ còn quan trọng hơn: những chính sách của Thaksin hỗ trợ nông dân vùng Bắc và Đông Bắc Thái, những đóng góp của tập đoàn tài chính của ông ta vào việc cải thiện mạng lưới y tế của vùng nghèo này làm cho uy tín của ông ta và phe cánh lên như diều; ngay lập tức phe chống đối cho rằng Thaksin mỵ dân, có xu hướng cộng hoà rất nguy hiểm cho Hoàng gia, còn cánh quân đội thì không thể chấp nhận hiện tượng chệch hướng này. Đảo chính đã xảy ra.

Còn một đặc trưng thứ ba rất đáng được chú ý: Cuộc đảo chính, cánh áo vàng, cánh áo đỏ còn do các mối quan hệ cá nhân chi phối và tạo dựng nên. Dư luận báo chí Thái nêu rõ đấy là những mối quan hệ lúc liên kết, lúc mâu thuẫn quyết liệt giữa những nhân vật có ảnh hưởng lớn trên chính trường Thái Lan2.

Ngoài ra, điểm nổi bật thứ tư quan trọng nhất: Muốn hay không toàn bộ sự kiện đẫm máu vừa qua xảy ra còn có một nguyên nhân sâu xa khác lâu dài hơn, sẽ bám đuổi và chi phối tương lai Thái Lan. Bertil Lintner gọi đấy là mâu thuẫn giữa một bên là “đồng tiền cũ” – ý nói thể chế chính trị hiện hành và một bên là “đồng tiền mới“  – ý nói phong trào dân chủ tư sản đang lên, một phần nào thể hiện tiếp tục qua hiện tượng “Thaksin” nói riêng, qua sự vận động của tầng lớp trí thức và trung lưu Thái Lan hiện nay nói chung3.

Chuyện các phe nhóm chính trị và kinh tế, các chính khách hay đại gia luôn luôn có các lợi ích đối nghịch nhau và tìm cách xử lý nhau, nhiều khi rất thô bạo, lặp đi lặp lại thường xuyên, trở thành một thứ căn bệnh kinh niên trên chính trường Thái Lan. Đấy là chưa nói đến chuyện từng cá nhân hay từng  phe nhóm tuỳ lợi ích riêng, vị thế và hoàn cảnh cụ thể của mình sẵn sàng thay đổi “chiến trường”, khiến cho căn bệnh kinh niên này trở nên khó trị hơn.  Trong vòng chưa đầy 8 thập kỷ có tới 24 cuộc đảo chính ở một quốc gia hoà bình, có quan hệ ngoại giao và quan hệ thương mại rất phát triển với mọi quốc gia trên thế giới, song không hề có chiến tranh với bất kỳ nước nào, minh chứng căn bệnh kinh niên này.

Bệnh kinh niên như thế cho phép kết luận: Phải chăng cứ khi nào xẩy ra “chệch hướng” thì lại có đảo chính vượt lên trên luật pháp để đưa nước Thái  trở lại quỹ đạo cũ?!

Có  thể đặt ra nhiều câu hỏi:

1. Vậy ”quỹ  đạo” Thái Lan không được phép đi chệch là  gì?

2. Lực lượng nào giữ cho nước Thái Lan không được phép “chệch hướng” ra ngoài “quỹ đạo” như thế?

3. Ai là người có khả năng thay đổi chiến trường của mình (lúc đi với bên này, lúc bỏ bên kia…)?

4. Có bàn tay can thiệp nào từ bên ngoài hay không?

Thực ra từ hàng chục năm nay, nhất là trong những ngày tháng này, báo chí và các học giả Thái Lan cũng như trên thế giới tốn không biết bao nhiêu giấy mực và công sức cho những câu hỏi như vậy.

Dư  luận trong Thái Lan khá rõ ràng. Có thể  do đất nước này hoa quả rất phong phú, nên người dân Thái Lan hài hước ví von quốc gia họ chủ  yếu do các nhóm ”dưa hấu” (trong đỏ ngoài xanh, chỉ nhóm quân đội), nhóm “cà chua” (trong đỏ, ngoài đỏ, nát bét,chỉ nóm công an), nhóm “dưa gang” (trong trắng ngoài vàng, chỉ nhóm thân Hoàng gia…) vân vân… chi phối. Người Thái Lan cũng ví: Thuyền cần nước, hổ cần rừng, Hoàng gia và quân đội vì thế cần nhau…4.

Quan điểm của giới nghiên cứu nước ngoài kết luận theo hướng: Lịch sử Thái Lan cho thấy giữ cho Thái Lan không đi chệch “quỹ đạo” luôn luôn là sự liên minh giữa quân đội và Hoàng gia. Thái Lan không thể nào đi tới nền dân chủ thật sự chừng nào còn tồn tại trên chính trường quốc gia mình mối liên kết như vậy5.

Hệ  quả là sau 8 thập kỷ tìm đường đi  đến dân chủ, với mọi thuận lợi hiếm quốc gia nào có được, Thái Lan vẫn chỉ là một nước đang phát triển có thu nhập trung bình khá, khoảng cách phát triển và chênh lệch giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị rất lớn, nhóm người giầu nhất nước chỉ chiếm 2% dân số nhưng kiểm soát tới 80% nền kinh tế; theo Lewis M. Simons – USA Today 27-05-2010, tài sản Hoàng gia hiện nay ước chừng 35 tỷ USD, thuộc loại giầu nhất thế giới.

Đời sống chính trị Thái Lan tuy đã thực hiện được một số quyền công dân và đã đặt được nền móng ban đầu cho nhà nước pháp quyền, song cứ “chệch hướng” của mối quan hệ thuyền cần nước, hổ cần rừng, Hoàng gia và quân đội vì thế cần nhau thì lại có đảo chính vượt lên trên luật pháp đưa Thái lan trở về quỹ đạo, con đường đi tới dân chủ còn xa vời.

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng náo loạn đẫm máu 9 tuần lễ vừa qua là các quả “dưa hấu”, “cà chua”, “dưa gang”… ở Bangkok rất nhiều quyền lực nhưng lại vô thức với luật pháp và thể chế nhà nước pháp quyền. Nếu đem sự việc thủ tướng Thaksin bị lật đổ tháng 09-2006 và các chuỗi sự kiện diễn biến tiếp theo so sánh với việc  thủ tướng Yukio Hatoyama từ chức ngày 01-06-2010 trong chế độ dân chủ đa nguyên cũng có vua của Nhật Bản, có thể khẳng định:  Náo loạn vừa qua ở Thái Lan không phải do thể chế chính trị dân chủ đa nguyên đa đảng gây ra, mà là do dân chủ và nhà nước pháp quyền bị vi phạm nghiêm trọng. Tình hình này còn tiếp tục kìm hãm sự phát triển của Thái Lan.

Cuộc khủng hoảng đẫm máu vừa qua làm cho Thái Lan trở  nên suy yếu hơn bao giờ hết, ảnh hưởng không có lợi cho vị thế và sự ổn định của các nước ASEAN. Trả lời câu hỏi: Ai là người có lợi trong tình hình có một nước Thái Lan đang suy yếu và bị chia rẽ?, Robert D Kaplan – một thành viên thâm niên trong Trung tâm Nghiên cứu về An ninh mới của Mỹ – trả lời: “Trung Quốc!” Kaplan còn nói thêm: Trong tình hình này cái bóng của Trung Quốc đang chờm lên nhanh trong khu vực6.

Nhìn về tương lai

Trong những ngày này, nhiều học giả Thái Lan và nước ngoài cho rằng cuộc khủng hoảng của Thái Lan vừa qua có  hai vấn đề lớn khác với quá khứ: (a) mâu thuẫn phát triển giữa nông thôn và thành thị ở  Thái Lan - bao gồm cả sự phân hoá giầu nghèo – đạt tới một áp lực mới chưa từng có trong các cuộc khủng hoảng trước đây; (b) Nhà vua, người được coi là Người cha tinh thần của Thái Lan ngày càng già yếu vì tuổi tác, chưa ai nói được điều gì về chuyển giao thế hệ.

Con đường phục hồi và phát triển của Thái Lan vì thế sẽ chật vật hơn rất nhiều so với quá khứ. Song dù thế nào, Thái Lan vẫn phải tìm cách đi tiếp trên con đường của dân chủ và phát triển.

Nhiều ý kiến thống nhất với nhau: Đụng độ đổ máu không phải là cách giải quyết vấn đề, mà phải tìm cách hoà giải trên cơ sở của thực hiện dân chủ và tăng cường tính thực thi của thể chế pháp luật, điều kiện tiên quyết là phải thực hiện công khai minh bạch. Một số ý kiến còn nhấn mạnh phải cung cấp đầy đủ thông tin cho mọi tầng lớp nhân dân để một mặt là giảm thiểu các hiện tượng “bầy đàn” do các nhóm lợi ích tạo dựng nên cho mục đích riêng của mình, mặt khác là tạo áp lực xã hội của dư luận đúng đắn thúc đẩy sự phát triển của Thái Lan7. Có không ít ý kiến nói về tự do báo chí và trách nhiệm của báo chí…

Tóm lại, ý kiến rất phong phú, song lựa chọn gì và  thực hiện như thế nào, chỉ có người Thái Lan mới trả lời được.

Là bạn của Thái Lan, chúng ta chúc đất nước của “nụ cười” sớm có niềm vui cười trở lại.
———————

Chú thích:

[1] Cuộc tấn công của Pháp vào Đà Nẵng xảy ra lần đầu tiên  04-1847, song cuộc chiến tranh chiếm Việt Nam làm thuộc địa của Pháp bắt đầu năm 1858, kéo dài đến năm 1884. Cũng bắt  đầu từ Đà nẵng.

[2] Pavin Chachavalpongpun, “The Personalization of Thailand’s Crisis” – Friday, 28 May 2010

[3] Bertil Lintner, “The Real Thai Crisis  – A conflict between old money and new money” , Wall Street Journal Asia, 15-04-2009.

[4] Craig J. Reynolds, “Behind the Thai Crisis”, Australia, 29-04-2010.

[5]   Craig J. Reynolds, trong bài viết “Behind the Thai Crisis”, Australia, 29-04-2010 đã nói thẳng: “Absolutism and despotism have always weighed heavily in the country’s history. Just beyond the street protests, the claims, and the counter-claims is the knot binding the monarchy to the army”. (“Chuyên chế và độc tài luôn luôn chi phối nặng nề lịch sử Thái Lan. Vượt lên trên các cuộc biểu tình phản đối trên đường phố, yêu sáchphản yêu sách luôn luôn xuất phát từ sự ràng buộc dính kết với nhau giữa Hoàng gia và quân đội”).

[6] Tìm xem: RICHARD BERNSTEIN, “The Failure of Thailand’s Democracy”, New York Times 25-05-2010.

[7] Tìm xem các bài: (1)Prof. Dany Unger, Northern Illinois University,A path to truth in Thailand”, trong tạp chí Southeast Asia, 02-06- 2010. (2) Andrew Walker & Nicholas Farrelly (College of Asia and the Pacific at the Australian National University), “Bangkok: how did it come to this?”, 06-05-2009.  (3) Craig J. Reynolds, trong bài viết “Behind the Thai Crisis”, Australia, 29-04-2010 và một số bài khác có liên quan.

Thay đổi nếp cũ trong lựa chọn nhân sự lãnh đạo

Tác giả: Vũ Minh Trực

Người xưa đã dạy: “Một sự bất tín ,vạn sự bất tin ” khi chuẩn bị nhân sự thì có những tiêu chuẩn tưởng như không có ngoại lệ. Nếu những người không đủ tiêu chuẩn mà vẫn trúng trong khi không có sự vượt trội hơn những người khác về năng lực thì rõ ràng, sẽ gây mất lòng tin của dân.

LTS: Sau bài viết “Việc của Đảng là việc của quốc gia” của Nguyễn Trung, Tuần Việt Nam nhận được nhiều ý kiến của độc giả bày tỏ sự đồng tình với những góp ý của ông. Dưới đây là bài viết của độc giả Vũ Minh Trực.

Cứ trước những kỳ Đại hội các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc, vấn đề nhân sự lại trở nên nóng bỏng, thu hút sự quan tâm rộng rãi của xã hội, thậm chí được bàn tán nhiều nhất trong dân gian. Đặc biệt là những vị trí lãnh đạo cấp cao của Đảng.

Có một điều gần như luật “bất thành văn” mà ai cũng thấy, đó là sự sắp xếp “Bắc – Trung – Nam” đối với chức vụ Đảng, Nhà nước và Chính phủ sau Đại hội.

Thử nhìn lại quá trình từ Đại hội IV đến nay sẽ thấy nhận định này không phải là không có cơ sở. Lãnh đạo cao nhất của đất nước ta luôn được phân ra như sau: Lãnh đạo đường lối (Hiểu ngầm là giỏi lý luận CN Mác) phải là người Miền Bắc (trước 1975). Lãnh đạo Nhà nước phải là người Miền Trung (trước 1975). Còn lãnh đạo chính phủ (hiểu ngầm là người năng động dám nghĩ, dám làm) thì chắc chắn là một người Nam Bộ.

Có những ý kiến cho rằng: Cách làm này là hợp lý, nó đảm bảo sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, và đã được thực tiễn các kỳ Đại hội sau khi Thống nhất 1975 chứng minh là đúng.

Tuy nhiên, nếu suy xét kĩ sẽ thấy tập quán bất thành văn này đang là rào cản lớn cho sự phát triển.

Nhìn lại lịch sử, tư tưởng phân biệt Bắc ,Trung ,Nam là con đẻ của chính sách chia để trị do thực dân Pháp đặt ra với đất nước.

Nhìn lại lịch sử, tư tưởng phân biệt Bắc, Trung, Nam là con đẻ của chính sách chia để trị do thực dân Pháp đặt ra với đất nước. Cũng chính vì muốn xóa bỏ chính sách nô dịch này mà Bác Hồ và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân  tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh đánh đuổi ngoại xâm thống nhất đất nước. Nhân dân ta đã đổ bao xương máu để xóa đi tàn dư của ngoại xâm. Ngay Đảng ta thì trước đây cũng đã có ba Đảng cộng sản của ba miền, rồi Bác Hồ đã thống nhất lại chỉ còn một Đảng cộng sản đó thôi ! Một đất nước đã thống nhất hơn 30 năm mà tư tưởng của Đảng viên vẫn chưa vượt qua được rào cản vùng, miền càng thấy sự độc ác trong chính sách nô dịch của chế độ thực dân với đất nước ta. Từ tư tưởng sẽ dẫn đến hành vi trong sinh hoạt ,trong hành động của chúng ta. Từ vô thức sẽ dẫn đến ý thức bè phái.

Đảng ta đang cần những người tài giỏi để lãnh đạo đất nước ta với mục tiêu vĩ đại  Một đất nước Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội dân chủ, văn minh. Người tài thì khắp đất nước đều có. Chẳng có một công trình nghiên cứu nào chứng minh được rằng: Người miền Bắc Việt Nam giỏi lý luận hơn người miền Nam, hay người Nam bộ thì giỏi làm kinh tế hơn miền Trung… Nếu cả ba vị trí quan trọng đều từ một địa phương nào đấy thì có sao? Đều là người Việt, cùng dòng giống Lạc Hồng, sao phải phân biệt?

Điều lệ Đảng không hề có điều nào quy định tiêu chuẩn bầu cử phải phân biệt vùng miền như vậy.

Đảng viên mà còn tư tưởng địa phương chủ nghĩa thì làm sao tuyên truyền vận động người dân xóa đi mặc cảm vùng miền được? Đây đã và sẽ là lực cản níu kéo sự phát triển của đất nước ta.

Trong lựa chọn nhân sự lãnh đạo, Đại hội X rất quan tâm đến yêu cầu “trẻ hóa” đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, một đòi hỏi bức thiết tăng cường sức sống của Đảng. Vì lẽ này, Đại hội X đã đề ra định mức về tuổi – đặc biệt là đối với các đảng viên được đề cử vào Bộ Chính trị; trong thực tế Đại hội X đã thực hiện nghiêm túc quy định này. Tôi tin tưởng đại hội XI sẽ phát huy hơn nữa cách trẻ hoá cán bộ như đại hội X.

Người xưa đã dạy: “Một sự bất tín, vạn sự bất tin” khi chuẩn bị nhân sự thì có những tiêu chuẩn tưởng như không có ngoại lệ. Nếu những người không đủ tiêu chuẩn mà vẫn trúng trong khi không có sự vượt trội hơn những người khác về năng lực thì rõ ràng, sẽ gây mất lòng tin của dân.

Tôi cũng tin tưởng Đại hội XI sẽ thực hiện nghiêm túc những quy định này.

Chúng ta hãy luôn nhớ đến lời dạy của Bác Hồ: mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết trong đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Sự đoàn kết trong Đảng có rất nhiều yếu tố tạo thành nhưng một trong nguyên nhân gây mất đoàn kết chính từ “tư tưởng địa phương chủ nghĩa” và “lời nói không đi đôi với việc làm “của mỗi đảng viên.

(Nguồn: Tuanvietnam)

Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21

Nguyễn Trung
Hà Nội

Như tựa của nó, bài viết này chỉ nêu lên những vấn đề chính Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI. Với suy nghĩ cho rằng cần làm rõ được những vấn đề đặt ra trước khi suy nghĩ về các giải pháp, bài này không đề cập tới, mà xin dành việc bàn về các giải pháp cho các dịp khác. Với tất cả tinh thần trách nhiệm của mình, người viết bài này đưa ra cách nhìn riêng về một số vấn đề, để ai quan tâm thì tham khảo. Vì hiểu biết và điều kiện làm việc rất giới hạn, những ý kiến trong bài chắc chắn có nhiều thiếu sót, mong được bổ khuyết.

Kính dâng Tổ quốc nhân dịp 1000 năm Thăng Long

I. Vấn đề đặt ra

Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận. Cần nhận định dứt khoát như vậy để gỡ bỏ mọi rào cản, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Cần nhận định dứt khoát như vậy trước khi tìm hiểu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam phía trước trên con đường phát triển của mình.

Mặt khác, cũng phải tỉnh táo nhìn nhận, so với chính ta trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa) của Hàn Quốc, Đài Loan.., nước ta phát triển như thế là chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và nhờ đó có thể “đỡ” rơi vào bệnh “mẹ hát con khen hay”!

Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế giới – trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tàu là kinh tế Mỹ – đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như có cùng nhận định: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang tính thời đại của Trung Quốc trên đường đi tới siêu cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng bỏng hơn nữa trên trường quốc tế.[1]

Như vậy, thập kỷ 2020 đến với Việt Nam với ba đặc điểm. Thứ nhất, thế giới đang tìm đường ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay, trên thực tế là đang phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới khác trước.  Thứ hai, hiện tượng Trung Quốc trên con đường trở thành siêu cường ngày càng trở nên nóng bỏng trên trường quốc tế – nhất là tại khu vực.  Và thứ ba, Việt Nam vừa phải thích nghi với bối cảnh thế giới mới rất quyết liệt so với trước, đồng thời vừa phải tự mình tìm đường chuyển sang một giai đoạn phát triển cao hơn để có thể đứng vững trong tình hình mới.

Ba đặc điểm ấy đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức mới, tới mức có thể nói: Kể từ khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, do đòi hỏi trong nước và bối cảnh quốc tế mới, chưa bao giờ mà độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và tương lai phát triển của đất nước phải đối phó với nhiều thử thách nguy hiểm và quyết liệt như hiện nay. Cụ thể là con đường phát triển của Việt Nam đang đặt ra nhiều đòi hỏi gắt gao, đồng thời cục diện quốc tế và khu vực đang đi vào một bước ngoặt đặt nước ta trước nhiều thách thức mới. Tất cả tạo nên sức ép căng thẳng bên ngoài và bên trong, đòi hỏi cả nước phải dấn lên đối mặt.

Chỉ cần nhìn vào bức tranh thế giới, bản đồ địa chính trị hiện thời của khu vực nước ta với một Trung Quốc đầy tham vọng, và nhìn vào các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, vào các vấn đề an ninh quốc phòng, vào những đòi hỏi của phát triển và cạnh tranh.., sẽ thấy rõ những điều vừa trình bày. Tính chất quyết liệt của chặng đường nước ta phải đi trong thập kỷ 2011-2020 là: Làm chủ được tình hình này sẽ tạo thời cơ lớn cho tương lai của đất nước, thất bại trong xử lý tình hình này, đất nước đi vào con đường đầy hiểm họa.

II. Những nét mới trong bối cảnh quốc tế
liên quan mật thiết đến nước ta

Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn về kinh tế cũng như về chính trị. Những thay đổi này không náo nhiệt như khi chiến tranh lạnh vừa kết thúc, song hầu như tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia. Thậm chí tại nhiều nước – kể cả Mỹ  ̶  cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng gia đình. (more…)

Xây chế độ chính trị đồng nghĩa với Tổ quốc

Tác giả: Nguyễn Trung

Chế độ chính trị của đất nước phải như thế nào để người dân gắn kết sống chết với nó bằng tất cả nhiệt huyết yêu nước của mình. Xây dựng một chế độ chính trị đồng nghĩa với tổ quốc là điều nhất thiết phải hướng tới.

LTS: Trong phần trước, Nguyễn Trung bàn về những khuyết tật của mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, dẫn tới nguy cơ Việt Nam trở thành đất nước làm thuê và cho thuê. Từ đó, ông kết luận: Chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu là mệnh lệnh sống còn bởi vì mọi yếu tố cho phát triển theo chiều rộng đã tới giới hạn chịu đựng cuối cùng.

Ở phần này, Nguyễn Trung đưa ra những khuyến nghị về chuyển đổi mô hình phát triển theo chiều sâu. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có những vấn đề cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời độc giả cùng tranh luận.

Phần trước:

Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỉ mới

Việt Nam nên đóng vai trò nào trong thế giới mới?

“Lời nguyền tài nguyên” và nguy cơ của một nước làm thuê

Không phải là con người công cụ!

Với tất cả những yếu tố đã phân tích trong phần trước, việc chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu là đòi hỏi tất yếu. Việc chuyển giai đoạn phát triển một cách có ý thức như vậy là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và gian khổ. Hơn lúc nào hết phải huy động trí tuệ cả nước, kinh nghiệm của thế giới, sự quyết tâm một lòng một dạ của toàn dân, và sự tận tụy, trung thành tuyệt đối của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước đối với lợi ích quốc gia để có thể thực hiện thành công nhiệm vụ sinh tử này với cái giá phải trả thấp nhất.

Dưới đây chỉ nêu lên một vài gợi ý ban đầu và rất sơ lược.

Một là, nói chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trước hết là nói đến phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người, là phát triển rất chú trọng đến chất lượng.

Đặt vấn đề như vậy, có nghĩa là thay đổi căn bản quan điểm hiện có về chiến lược phát triển.

Con người được nói tới ở đây vừa là chủ của chính bản thân mình, là chủ của đất nước, vừa chính mình trực tiếp là lực lượng sản xuất quyết định nhất. Câu hỏi đặt ra ngay tức khắc là thể chế luật pháp nào, hệ thống giáo dục nào, khung khổ xã hội nào, và những chính sách phát triển kinh tế – chính trị – xã hội nào cần phải có để có thể tạo ra được và tiếp tục phát triển được con người như thế.

Bao trùm lên tất cả là phải duy dưỡng và xây dựng những giá trị nào làm nền tảng đạo đức, tinh thần và tâm hồn của con người với tính cách như thế – con người của hành động theo tư duy của tự do và sáng tạo, chứ không phải là con người công cụ.

Câu trả lời nếu tìm được, trước hết sẽ có nghĩa phải sẵn sàng và chấp nhận triệt để nhiều thay đổi căn bản trong thể chế chính trị và trong hệ thống quản lý đất nước, cũng như trong tìm tòi và thiết kế các chính sách phát triển đất nước.

Câu trả lời nếu tìm được, thì những công việc phải làm do nó đề ra không thể là những công việc một sớm một chiều, mà phải là một quá trình cải cách và phát triển liên tục, lâu dài, có các bước trước – sau và đồng bộ.

Cho đến nay, có không ít các nghị quyết của Đảng nói về phát triển con người, đề ra được rất nhiều vấn đề quan trọng không thể thiếu được, song hình như vẫn chưa đụng tới được cái gốc: con người vừa là chủ bản thân và là chủ của đất nước, vừa là lực lượng sản xuất quyết định nhất, là con người hành động theo tư duy của tự do và sáng tạo, không phải là con người công cụ.

Phải chăng chính vì lẽ này các nghị quyết như thế không thực thi được bao nhiêu?

Nói bao nhiêu cũng không xuể về chủ đề con người này, song nhất thiết cần nhấn mạnh chế độ chính trị của đất nước phải như thế nào để người dân gắn kết sống chết với nó bằng tất cả nhiệt huyết yêu nước của mình.

Xây dựng một chế độ chính trị đồng nghĩa với tổ quốc là điều nhất thiết phải hướng tới. Không có điều kiện này, ước mơ sẽ trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại đủ sức ganh đua với thiên hạ mãi mãi sẽ chỉ là ước mơ.

Khoa học và chân lý phải có tiếng nói quyết định

Đặt vấn đề như nêu trên là khởi điểm và đồng thời cũng là nền tảng để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thời đại ngày nay trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

Quan điểm này không mới, chiếm vị trí quan trọng trong rất nhiều nghị quyết và chính sách của Đảng và Nhà nước. Suốt 25 năm qua công sức và ngân sách bỏ ra cho mục tiêu này không ít. Song kết quả cuối là chỉ đạt được hàm lượng khoa học và công nghệ thấp trong sản phẩm làm ra, trong chất lượng các chủ trương chính sách, trong luật pháp, trong quy hoạch phát triển, trong các quyết định chiến lược, quyết sách.., cũng như trong bộ máy làm việc của toàn bộ hệ thống chính trị nói chung và của hệ thống nhà nước nói riêng…

Kết quả cuối cùng còn là sự lãng phí rất to lớn về tiền của, công sức và thời gian. Tham nhũng trong đầu tư cho khoa học và công nghệ không thể nói là nhỏ, càng không nhỏ đối với một nước nghèo như nước ta.

Nhiều phê bình trong nước và từ nước ngoài nói khâu “R&D” (“nghiên cứu & triển khai) của nước ta rất kém. Nhận xét này đúng nhưng không đầy đủ, bởi vì nhận xét này không nói lên được nguyên nhân chính của tình trạng này là chưa có con người và thể chế phải có; thậm chí nhận xét này còn bị hiểu thiên lệch là ta làm “R&D” chưa giỏi và vì ta nghèo!

Tình trạng “hàm lượng thấp” như vừa nêu trên còn do một nguyên nhân chính trị rất quan trọng: ý chí chính trị chứ không phải khoa học và chân lý có tiếng nói quyết định.

Cải cách giáo dục và đào tạo cần bắt đầu từ chỗ không nói dối

Chuyển sang giai đoạn phát triển mới nhất thiết phải cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo.

Đòi hỏi phải cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo hầu như được sự nhất trí rộng rãi trong cả nước. Vấn đề còn đang tranh cãi là cải cách theo hướng nào, tiêu chí nào. Đề nghị trực tiếp tham khảo ý kiến các bên hữu quan để có sự đánh giá riêng của mỗi người và cùng nhau tranh luận cho sự lựa chọn phương án tối ưu nhất cho đất nước.

Phương án cải cách định lựa chọn nhất thiết phải tuân thủ mục tiêu đào tạo, hình thành và phát huy con người hành động theo tư duy của tự do và sáng tạo, không phải là con người công cụ.

Sự nghiệp cải cách này cũng phải tiến hành từng bước và liên tục với một kế hoạch được thiết kế sao cho có thể vừa đáp ứng ngay những đòi hỏi bức xúc của phát triển và vừa phục vụ cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Cải cách như thế sẽ là sự nghiệp của cả thập kỷ 2020 và sau nữa, phải rất triệt để, nhưng cũng không thể nóng vội được.

Chỉ xin lưu ý, nhiệm vụ này là của cả nước chứ không thể chỉ là của riêng ngành giáo dục và đào tạo, bởi vì tính chất cải cách giáo dục và đào tạo bao gồm và liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực khác của toàn bộ đời sống đất nước. Nói một ví dụ đơn giản là không thể tiến hành cải cách này trong tình hình còn đầy rãy những hiện tượng bằng thật không ăn nhằm gì và có quá nhiều trường hợp là bị thải loại và thua bằng giả.

Thực tế tại các quốc gia cũng cho thấy không thể tiến hành cải cách này một cách đích thực nếu thể chế chính trị và xã hội của quốc gia ấy chịu khuất phục những giá trị ngược lại với những mục tiêu một nền giáo dục và đào tạo tiên tiến phải theo đuổi.

Điều xin đặc biệt nhấn mạnh là cải cách giáo dục và đào tạo thành công trong thập kỷ 2020, sẽ quyết định tương lai của đất nước trong thế kỷ 21, chứ không phải sự nghiệp công nghiệp hóa như đang làm. Thậm chí có thể nói sự nghiệp cải cách giáo dục và đào tạo cần bắt đầu từ chỗ không nói dối!

Đổi mục tiêu và cơ cấu kinh tế

Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Đây là một quá trình đau đớn, gian khổ, nhưng tất yếu phải làm.

Những vấn đề nêu trong các điểm bên trên đã nêu ra được một số nguyên nhân, nhưng chắc chắn chưa đủ. Cần nghiên cứu công phu để tìm ra giải pháp.

Trước mắt nên bỏ cách tư duy “kinh tế GDP” tỉnh, tạm thời đặt sang một bên vấn đề tỷ trọng các khu vực kinh tế trong phạm vi tỉnh để đánh giá tỉnh đó tiến bộ hay thụt lùi, mà nên đo lường bằng kết quả thu nhập của người dân, chất lượng cuộc sống của họ, khả năng cạnh tranh đích thực của các sản phẩm của tỉnh, kết quả cạnh tranh đạt được, chuyển đổi cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung vào các sản phẩm tỉnh có lợi thế nhất, chuẩn bị cho những sản phẩm mới tỉnh có lợi thế lớn; ở cấp quốc gia cũng phải làm như vậy.

Quan điểm và khái niệm về công nghiệp hóa như đang có cũng phải xem lại, trong đó nông nghiệp cần được hiểu và phải hướng tới là một nền nông nghiệp của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại – đặc biệt là công nghệ sinh học và bảo tồn sinh thái; một nền nông nghiệp như thế phải chiếm một vai trò quan trọng (chứ không phải các tỷ lệ số học) trong chiến lược công nghiệp hóa như đã được xới lên ở trên.

Hoàn thiện thị trường để tăng chất lượng các tín hiệu thu được cần thiết cho các quyết sách; đồng thời cần tạo ra những hậu thuẫn (chứ không phải bao cấp) có thể cung cấp từ phía nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp cho việc làm ra một sản phẩm mới cũng như cho việc thải loại một sản phẩm dứt khoát phải chia tay, nhất là những hậu thuẫn cho việc thu hẹp kinh tế thượng nguồn.

Hàm lượng công nghệ được đưa vào, khả năng hướng tới nền kinh tế carbon thấp, khả năng cạnh tranh, khả năng chiếm lĩnh các thị trường “ngách”, khả năng chiếm lĩnh chỗ đứng trong các chuỗi cung – ứng trên thị trường thế giới, khả năng hướng tới kinh tế trí thức… đó là các tiêu chí và cơ sở cho việc đề ra các chính sách và biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tất cả cần luôn luôn chú ý đến cái lợi và bất lợi của nước đi sau (khai thác lợi thế nước đi sau), tất cả luôn luôn nhằm vào cái đích dần dần tạo ra một nền kinh tế chủ yếu dựa vào phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải ưu tiên nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh và mở rộng thị trường nội địa còn rất rộng lớn của nước ta cho sản phẩm của ta, đảo ngược hẳn tình hình thị trường nội địa nước ta hiện đang bị sản phẩm nước ngoài nắm giữ phần lớn. Đòi hỏi này hoàn toàn không có gì liên quan đến tư duy “tự cung tự cấp” hoặc “thay thế nhập khẩu”, bởi lẽ nước ta đã hội nhập kinh tế thế giới và thị trường nước ta là thị trường mở.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đặc biệt chú ý tạo ra khả năng mở rộng thị phần và chiếm thêm các “thị trường ngách” của các nước trên thế giới trong tình hình các nước đều phải tiến hành điều chỉnh kinh tế của họ theo hướng phải quan tâm nhiều hơn nữa đến thị trường nội địa của họ. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay vẫn đang có nhiều lợi thế lớn, song phải nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ mới có thể phát huy được trong tình hình mới.

Thậm chí nếu cần thiết, tạm thời chấp nhận chỉ số tăng trưởng có thể thấp trong một số năm nhất định, nếu quá trình chuyển dịch cơ cấu đem lại chất lượng tăng trưởng tốt hơn và mở đường cho sự phát triển năng động hơn tiếp theo.

Có lẽ không nên bám lấy mục tiêu hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020 với bất cứ giá nào, vì điều này vừa không hiện thực, vừa trở nên không quan trọng nữa, thậm chí nếu năm 2020 trở thành cường quốc xi-măng và thép thì rất nguy hiểm. Mục tiêu chiến lược nên chọn là vào năm 2020 sẽ hoàn thành việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo nội dung đã trình bầy trên, để kinh tế nước ta từ 2020 sẽ bước hẳn vào thời kỳ phát triển theo chiều sâu.

Ngay khi cả nước đã thống nhất được ý chí, có quyết tâm lớn, hoạch định được các bước đi cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tinh thần như vậy, công việc phải làm cho 10 năm tới rất nhiều và diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đất nước, sẽ đầy khó khăn gian khổ, không có trí tuệ và nỗ lực cao nhất sẽ không hoàn thành nổi! Chắc chắn sẽ có những vấp ngã mới – nhưng đấy sẽ là những vấp ngã trên đường đi lên.

Nếu từ nay đến năm 2020 mà thực hiện được mục tiêu chuyển dịch này, thì cần phải coi đó là một thành tựu kì diệu có tính bước ngoặt như đổi mới năm 1986 – vì nó mở ra cho đất nước một giai đoạn phát triển mới.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đưa đất nước vào một giai đoạn phát triển mới như thế rõ ràng là một quá trình chuyển dịch tổng thể kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước để đi vào giai đoạn phát triển mới cao hơn.

Trọng trách trên vai Đảng

Nhìn lại, yếu tố nổi bật nhất của 25 năm đổi mới là dân chủ. Có thể nói thừa nhận đổi mới là kết quả của thừa nhận dân chủ; rồi đến thành tựu đạt được của đổi mới trước hết là nhờ dân chủ: trí tuệ và nguồn lực được cởi trói, được phát huy – từ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường.

Cũng là một sự thật, thành tựu bậc nhất ấy của đổi mới còn bị xem là một nguy cơ của diễn biến hòa bình, vì thế 25 năm qua có không ít khó khăn, đôi khi bị kìm hãm. Đi vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, phải thẳn thắn đối mặt với sự thật này.

Tập đoàn kinh tế nhà nước yếu kém, nền “kinh tế GDP tỉnh” và “tư tưởng nhiệm kỳ” – đấy là 3 nhân tố quyện lại với nhau lũng đoạn nghiêm trọng nhất kinh tế đất nước, hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước. Đồng thời 3 yếu tố này và tác động cộng hưởng của chúng cũng là những tác nhân trực tiếp băng hoại nhiều nhất những giá trị cần gìn giữ, là mảnh đất mầu mỡ của mọi tha hóa. Giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi phải khắc phục được những yếu kém này.

Đất nước bước vào thập kỷ 2011 – 2020 với Đại hội XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đảng cầm quyền và lãnh đạo đất nước. Tình hình, nhiệm vụ, thách thức đất nước sẽ đối mặt trong thập kỷ 20 này chắc chắn sẽ đặt lên vai Đảng trọng trách rất lớn và sự thử thách quyết liệt.

“Lời nguyền tài nguyên” và nguy cơ của một nước làm thuê

Tác giả: Nguyễn Trung

25 năm vận hành nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chúng ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một nước đi làm thuê và đất nước cho thuê với cả nghĩa đen và nghĩa bóng – Nguyễn Trung

LTS: Trong phần trước, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung bàn về ứng xử đối ngoại cần có của Việt Nam trong thập kỷ mới, trong đó bàn sâu về quan hệ Việt – Trung. Từ đó, ông đi đến kết luận: để VN có vai trong thế giới mà các nước lớn, trong đó có Trung Quốc cần, dân tộc VN cần phải tìm cách thoát khỏi tình trạng tụt hậu về kinh tế.

Ở phần này, Nguyễn Trung phân tích những thách thức của mô hình phát triển hiện tại.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có những vấn đề cần được tiếp tục tranh luận và làm sáng tỏ thêm.

Phần trước:

Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỉ mới

Việt Nam nên đóng vai nào trong thế giới mới

25 năm chưa thấy rõ hình hài công nghiệp hoá

Trong 25 năm kể từ khi tiến hành Đổi Mới, kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng: chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh về giá lao động rẻ (trình độ tay nghề thấp, ít hàm lượng kỹ thuật, thậm chí một bộ phận đáng kể là lao động cơ bắp); khai thác tài nguyên thiên nhiên, (3)đẩy mạnh đầu tư từ các nguồn trong nước và nước ngoài cho phát triển một nền kinh tế sử dụng nhiều lao động giá rẻ và tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên, (4)sử dụng lãng phí đất đai và không thân thiện với môi trường.

Nhìn chung trong suốt thời kỳ này nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, song chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp so với công sức bỏ ra và so với những cái giá phải trả. Đại hội X đã phê phán tình trạng yếu kém của mô hình phát triển theo chiều rộng.

Mối lo lớn nhất là sau ¼ thế kỷ tăng trưởng và phát triển kể từ khi đổi mới, nước ta cho đến nay vẫn chỉ là người cung cấp lao động rẻ, nông phẩm thô, nguyên liệu thô hoặc sơ chế thấp, sản phẩm gia công, sản phẩm chế tạo với hàm lượng công nghệ thấp, đất đai và thị trường nội địa trở thành nơi thu hút FDI chủ yếu cho công nghiệp có hàm lượng công nghệ thấp và gây nhiều gánh nặng cho môi trường tự nhiên và xã hội…

Trong thập kỷ tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhất thiết đòi hỏi phải có tầm nhìn thấu đáo cục diện thế giới – với lý tưởng lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia là duy nhất và trên hết, để có đủ trí tuệ và bản lĩnh tạo ra cho đất nước bên trong là sự đồng thuận không gì phá vỡ được, bên ngoài là một bối cảnh hòa bình tối ưu cho phép.

Với chiến lược phát triển dựa vào 4 yếu tố như vậy, thế mạnh lớn nhất và nguồn lực nội tại lớn nhất của đất nước là con người Việt Nam không được phát huy. Trên thực tế nước ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một nước đi làm thuêđất nước cho thuê với cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Với GDP tính theo đầu người hiện nay đạt khoảng 1000 USD – tăng khoảng 10 lần so với khi bước vào đổi mới, nước ta mới ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp. Hiện tại nền kinh tế nước ta phát triển ở mức thấp trên các phương diện: trình độ lao động, hàm lượng công nghệ, năng lực kinh doanh, năng lực quản lý đất nước, hiệu quả kinh tế, sự phát triển của con người, của văn hóa, xã hội và của toàn bộ hệ thống chính trị…

Nhìn chung sau 25 năm vẫn chưa thấy hình hài của một nền kinh tế công nghiệp hóa, càng chưa thể hình dung một quốc gia công nghiệp Việt Nam trong vòng một hai thập kỷ tới sẽ ra sao. Điều này có nghĩa vào năm 2020, thời điểm hoàn thành mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, nước ta sẽ vẫn còn đứng cách rất xa các chỉ tiêu của một nước được coi là hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa.

Một quốc gia hoàn thành thời kỳ công nghiệp hóa còn phải được nhìn nhận theo các tiêu chí của một xã hội công nghiệp. Trên phương diện này, phải nói nước ta còn khá lạc hậu so với một nước công nghiệp hóa và so với thế giới chung quanh về nhiều mặt: dân trí, tính công khai minh bạch, xã hội dân sự, năng lực, tính trách nhiệm và tính tin cậy được (accountability) của bộ máy nhà nước, đặt Hiến pháp và pháp luật lên trên hết, khả năng đề kháng hay khắc phục những tha hóa mới về nhiều mặt nhiễm phải trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng lạc hậu và đi sai hướng của hệ thống giáo dục với những hệ quả lâu dài và khó lường cho tương lai…

Nói một cách hình ảnh: Đến năm 2010, sau ¼ thế kỷ đổi mới, nước ta có lẽ mới chỉ đi được khoảng 1/3 hay một nửa đầu của toàn bộ chặng đường công nghiệp hóa mà thôi.

Từ nay đến năm 2020 có cách nào “đi” hay “bay” nốt 2/3 hay một nửa chặng đường còn lại không? Dứt khoát không! Thậm chí “đi” hay “bay” tiếp tục như hiện nay, sẽ rất khó có một nước Việt Nam công nghiệp hóa trong vòng ba bốn thập kỷ tới, hoặc không bao giờ!

Không để bị ru ngủ mãi

Sau 25 năm công nghiệp hóa, nước ta có một nền kinh tế còn nhiều đặc tính manh mún, bóc ngắn cắn dài, tranh thủ được cái gì thì làm cái nấy, và nhìn chung là ngày càng có những mất cân đối lớn, ngày càng đi sâu vào một cơ cấu kinh tế lạc hậu và ô nhiễm môi trường nặng nề! Hơn nữa tính mất cân đối,  tính lạc hậu này và tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới ranh giới chịu đựng cuối cùng.

Xin đơn cử một vài ví dụ:

o       Xuất khẩu than, dầu, gạo và nhiều sản phẩm khác đã tới đỉnh của khả năng cho phép, không thể vượt qua được, thậm chí tiếp tục duy trì những cái “đỉnh” này có thể dẫn tới thảm họa.

o       Ô nhiễm môi trường và sử dụng đất đai lãng phí đã tới mức nguy hiểm, trong khi dân số tiếp tục tăng, ruộng đất ngày càng khan hiếm.

o      Cơ cấu kinh tế lạc hậu và nhiều chính sách kinh tế – xã hội hiện nay chẳng những có thể lọai bỏ cơ may mà “cơ cấu dân số vàng” của chúng ta (tỷ lệ người trong tuổi lao động chiếm quá nửa hoặc gần gấp đôi số người sống phụ thuộc) có thể đem lại cho đất nước. Thậm chí “cơ cấu dân số vàng” này có thể biến thành mối đe dọa lớn vì nạn thất nghiệp và sự xuống cấp của xã hội đang trở nên nghiêm trọng.

o       Hiện nay vì những yếu kém về nhiều mặt trong thu hút FDI, nước ta hàng năm phải tìm cách xuất khẩu một lượng lao động lớn, đang trở thành địa điểm cho nước ngoài thuê để làm ra các sản phẩm tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng và gây ô nhiễm moi trường. Nói gắn gọn, nước ta về nhiều mặt thực chất đang là nước đi làm thuê và là đất nước cho thuê.

o       Nhập siêu và thâm hụt ngân sách cứ tiếp tục như hiện này sẽ hứa hẹn những đổ vỡ lớn trong tầm tay.

o       Càng nhiều đô thị hiện đại mọc lên do đầu tư nước ngoài, nhưng sự phát triển những mặt khác nếu không phát triển đồng bộ (nhất là luật pháp, năng lực hành chính, các chính sách kinh tế, các ngành dịch vụ, nguồn nhân lực, các ngành cung ứng…) thì sẽ hoặc là thất bại lớn, hoặc biến thành các dự án treo, thành đầu cơ đất đai và tạo ra nhiều nguy cơ khác nữa.

Xin đừng để những lời khen vàng ngọc của nước ngoài về “tính năng động”, về “triển vọng tốt đẹp” của kinh tế Việt Nam, về “khả năng hấp dẫn” của thị trường Việt Nam, “Việt Nam là nền kinh tế đang lên”, về vân vân… ru ngủ chúng ta.

Cứ cho những lời khen ấy là thực bụng, thì cũng đừng quên họ nhìn Việt Nam về nhiều mặt đang là thị trường tốt nhất để đưa tới những thứ họ đang muốn loại bỏ ở nước họ hoặc những thứ các nơi đang thừa ế và muốn tống khứ. Các dự án đóng tàu, dự án thép và xi-măng khổng lồ là những ví dụ tiêu biểu, chưa nói đến hàng trăm sân golf…

Càng phát triển, càng ách tắc

Tóm lại, tình hình phát triển kinh tế 25 năm qua cho thấy mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng đã đi trọn vòng đời của nó. Điều này thể hiện tập trung nhất ở chỉ số lạm phát và chỉ số ICOR của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng cao và thuộc loại cao nhất ở châu Á, đồng thời lạm phát vượt xa mức tăng trưởng.

Nói nôm na đấy là hiện tượng: Tiền của công sức bỏ ra ngày càng nhiều, hiệu quả kinh tế thu được có tỷ lệ ngày càng thấp. Kéo dài tình trạng này sẽ kiệt sức.

Tăng trưởng GDP Tỷ lệ lạm phát Chỉ số ICOR
2006 8,17% 7,7% 5,0
2007 8,48 12,6 5,2
2008 6,23 19,89   (22,97)* 6,9
2009** 5,2 9,4

Nguồn: Tổng cục Thống kê *IMF & EIU **Dự báo

Càng phát triển, nền kinh tế càng tích tụ nhiều ách tắc hay mất cân đối mới. Những hiện tượng ách tắc này được đặt dưới cái tên gọi chung là những thắt cổ chai. Đó là những mất cân đối ngày càng gay gắt:

  • giữa khả năng đáp ứng của kết cấu hạ tầng và đòi hỏi phát triển của nền kinh tế; giữa sự phát triển yếu kém nguồn nhân lực và đòi hỏi của phát triển kinh tế – xã hội;
  • giữa khả năng quản trị quốc gia và đòi hỏi phát triển của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, tình trạng quan liêu và nạn tham nhũng, khả năng yếu kém trong thực thi pháp luật…;
  • đặc biệt là tình trạng nhập siêu và tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng: Nhập siêu từ năm 2000 ngày càng lớn và được coi là ở mức báo động.  Kể từ năm 1995 đến 2005, nhập siêu của Việt Nam luôn ở mức dưới 5 tỷ USD và ước khoảng 10% GDP;  song đã tăng vọt lên trên 12 tỷ USD vào năm 2007 (gấp 2,4 lần so với năm 2006) và đến hết tháng 9/2008, tổng mức nhập siêu đã lên tới con số 15,8 tỷ USD (ước khoảng trên 20% GDP/năm)…  Nếu phân tích  các quốc gia ta nhập siêu, sẽ thấy bức tranh trầm trọng hơn (chủ yếu từ Trung Quốc và các nước châu Á – là các quốc gia có công nghệ thấp). Thâm hụt ngân sách từ năm 2000 trung bình là 5-6% GDP/năm, riêng năm 2009 dự kiến là 8% GDP/năm.
  • giữa một bên là năng lực và chất lượng trong việc hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển.., và một bên là đòi hỏi phát triển mọi mặt đất nước.

Hệ quả lớn nhất của tình trạng càng phát triển càng tích tụ ngày càng nhiều ách tắc và mất cân đối lớn là hầu như cản trở mọi chiến lược hay chủ trương phát triển có tính dài hạn.

Mới dừng ở công nghiệp hóa “gặp gì làm nấy”

Nội dung công nghiệp hóa trên thực tế đã tiến hành 25 năm qua chủ yếu được xác định qua các chỉ số tăng trưởng đặt ra cho các kế hoạch 5 năm theo các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), thiếu hẳn việc xác định nội dung cụ thể công nghiệp hóa về một số ngành và sản phẩm kinh tế mà quá trình công nghiệp hóa phải từng bước giành được cho các thị trường ngách hoặc thị trường mới. Nói một cách khác đấy là cách hoạch định công cuộc công nghiệp hóa về mặt số lượng.

Việt Nam thiếu hẳn chiến lược, kế hoạch và các quy hoạch cụ thể phát triển kết cấu hạ tầng đi song song hoặc đi trước một bước mở đường cho sự tiến triển của công nghiệp hóa với nội dung khai thác thị trường ngách và chiếm thị trường mới.

Chúng ta cũng thiếu hẳn chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà sự nghiệp công nghiệp hóa/ hiện đại hóa đất nước đòi hỏi, thậm chí có thể nói hệ thống giáo dục và chính sách phát triển nguồn nhân lực hiện nay là hoàn toàn bất cập, trực tiếp gia tăng sự tụt hậu của đất nước và để lại nhiều hệ quả lâu dài.

Ta chỉ đề ra yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các chỉ số số lượng cần đạt được cho tỷ trọng các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), song trong thực tế  thiếu rất nhiều chính sách vĩ mô hỗ trợ quá trình chuyển đổi này, những chính sách vĩ mô hiện có không đáp ứng được đòi hỏi này. Các Đại hội đều phê phán là cơ cấu kinh tế chuyển đổi rất chậm, nhưng đến nay chưa có kế sách gì đảo ngược tình hình này.

Đặc biệt nghiêm trọng là các Đại hội Đảng đều thừa nhận cải cách chính trị không đi kịp với đòi hỏi của phát triển kinh tế và xã hội, do đó chẳng những không thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, không phát huy được cái mạnh và những thuận lợi của đất nước. Thậm chí, nó làm cho quá trình này chậm lại. Trong quá trình thực hiện, các kế hoạch 5 năm thường bị thiên lệch, biến tướng khá xa.

Nói ngắn gọn, cho đến nay mới chỉ có chủ trương hay mong muốn công nghiệp hóa với cái đích phải đạt được vào năm 2020; nghĩa là thiếu hẳn một chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đồng bộ, xuyên xuốt và có hiệu quả cho mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa.

Tất cả những điều vừa trình bày toát lên một sự thật: Nước ta sau 25 năm trên thực tế vẫn chưa có một chiến lược công nghiệp hóa đúng với cái tên gọi của nó. Quá trình công nghiệp hóa cho đến nay diễn ra hầu như dưới dạng một chuỗi các kế hoạch 5 năm cộng lại, và rất khó nói rằng những kế hoạch 5 năm này được thiết kế theo một quan điểm chiến lược công nghiệp hóa xuyên xuốt.

Thực tế đã diễn ra chủ yếu là: tranh thủ làm được gì làm nấy, gặp gì làm nấy, không ít tình trạng chồng chéo, trùng lặp, giẫm đạp lên nhau – tỉnh anh có xi măng lò đứng, tỉnh tôi cũng có; tỉnh anh có nhà máy mía đường, tỉnh tôi không kém tỉnh anh; tỉnh anh có khu công nghiệp, tỉnh tôi cũng không thua…

Quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua chủ yếu do sự lôi kéo, sức đẩy và sự dẫn dắt tự thân của cuộc sống và tác động của đầu tư và dòng vốn từ bên ngoài, nhiều hơn là do sự thúc đẩy theo một hướng chiến lược được xác lập của hệ thống chính trị và do sự giác ngộ với tầm nhìn sắc bén của những người lãnh đạo.

Cần nói ngay, phát triển như thế đang tạo ra nguy cơ lệ thuộc (chứ không phải phụ thuộc lẫn nhau, cũng không phải “win-win”) ngày càng nguy hiểm

Đổi mới thể chế chưa theo kịp đổi mới kinh tế

Hơn nữa, nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua chưa đặt ra vấn đề phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của  nước ta là con người Việt Nam.

Các Đại hội Đảng nhấn mạnh coi con người là trung tâm, song lại hiểu vấn đề này chủ yếu theo những khía cạnh phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội. Trên thực tế triển khai, chưa thể nói con người đã trở thành trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội. Càng chưa thể nói con người là đối tượng trung tâm được phục vụ của mọi nỗ lực của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước.

Xin nhấn mạnh: quan điểm coi con người là trung tâm như vậy và quan điểm phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Có lẽ sự thiếu vắng một chiến lược công nghiệp hóa dựa trên phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất này của đất nước là một trong các tác nhân chính khiến cho quá trình và nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua nặng về chạy theo số lượng, chứ không phải là chất lượng.

Sự thiếu vắng quan điểm chiến lược cực kỳ hệ trọng này đã xô đẩy quá trình công nghiệp hóa chủ yếu chạy theo số lượng rất khó cưỡng lại; qua đó công nghiệp hóa rơi vào tình trạng bước trước không chuẩn bị được bao nhiêu cho bước tiếp theo, càng phát triển cơ cấu kinh tế càng khó chuyển dịch. Tình trạng này đồng thời cũng tăng thêm sự hụt hẫng và trì trệ trong đổi mới thể chế chính trị – xã hội theo yêu cầu phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người.

“Lời nguyền tài nguyên”

Càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua có khuynh hướng càng đi sâu vào kinh tế thượng nguồn: khai thác khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác, phát triển sản phẩm thô, giá trị gia tăng rất thấp, duy trì công nghệ lạc hậu, cái giá phải trả cho hủy hoại môi trường tự nhiên và môi trường xã hội rất cao…

Đặc biệt là trong các “nền kinh tế GDP tỉnh”, hầu như tất cả các tỉnh có khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên thì đều coi đấy là thế mạnh của mình và ra sức khai thác bừa bãi; có nơi Thủ tướng đã phải ra lệnh đình chỉ.

Phát triển kinh tế thượng nguồn là điều khó tránh khỏi ban đầu đối với một nước nghèo và lạc hậu. Song sai lầm là ở chỗ muốn lấy phát triển kinh tế thượng nguồn làm cú hích và nguồn tích tụ vốn cho công nghiệp hóa, thậm chí coi kinh tế thượng nguồn là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, tại nhiều vùng trong nước đã và đang xảy ra phát triển kinh tế thượng nguồn với bất kỳ giá nào.

Cũng phải nói rõ thêm, nhiều tỉnh bí quá không biết làm gì thì bóc rừng và bóc khoáng sản để lãnh đạo tỉnh “thi đua” trong việc tạo thành tích thay đổi tỷ trọng cơ cấu trong “nền kinh tế GDP tỉnh” của mình, nhân dân tại chỗ chịu thêm nhiều thiệt hại và nhà nước hầu như không được lợi gì song trên mặt nhiều báo cáo lại được coi đây là thành tích!

Hạch toán chung của phát triển kinh tế thượng nguồn theo kiểu như vậy trong 25 năm qua là lợi bất cập hại, cái giá phải trả cho phát triển quá đắt so với mức tiến bộ đạt được, tiếp tục ghìm giữ đất nước trong vòng lạc hậu cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Chính điều này góp phần giải thích tại sao 25 năm ban đầu của nước ta đi chậm hơn 25 năm đầu của các NICs như Hàn Quốc và Đài Loan, thậm chí đang thúc đẩy đất nước rẽ vào ngả đường trở thành một Philippines mới!

Trên thế giới người ta gọi hiện tượng này là căn bệnh Hà Lan hay là “lời nguyền của tài nguyên”, giải thích căn nguyên hàng chục năm qua lấy xuất khẩu tài nguyên làm nguồn thu nhập quan trọng song hiện nay vẫn ở trong vòng lạc hậu – đấy chính là căn bệnh kinh tế Hà Lan đã mắc phải năm 1977, khi quá chú trọng xuất khẩu khí thiên nhiên và qua đó làm trì trệ và suy sụp nhiều ngành kinh tế khác, Hà Lan buộc phải thay đổi chiến lược phát triển của mình để tìm lối thoát.

Hãy thử xem xét một số vấn đề:

Các xí nghiệp xi-măng, luyện thép đã có, đang xây dựng, hoặc đã được cấp phép xây dựng sẽ dẫn tới tình hình nước ta vào năm 2020 thừa khoảng một chục triệu tấn xi măng/năm và khoảng 20 triệu tấn thép/năm trong tình trạng đất nước ngày càng thiếu năng lượng gay gắt. Phải chăng mục tiêu công nghiệp hóa của nước ta như vậy là để trở thành cường quốc xi-măng và thép trong thế kỷ 21 này?

Nếu điều này xảy ra, chắc chắn là một thảm họa cho đất nước – trước hết vì cảnh quan môi trường tự nhiên của đất nước sẽ bị “mặt trăng hóa” nhiều vùng, kinh tế nước ta sẽ đổ vỡ, vì bị xi-măng và thép không có khả năng cạnh tranh của chúng ta đè bẹp..

Vào năm 2015 trở đi, nước ta sẽ thiếu năng lượng trầm trọng và phải nhập khẩu, trong khi đó xuất khẩu than và dầu của nước ta xuốt 25 năm qua hầu như bỏ qua tương lai của đất nước! Phát triển thủy điện đã vượt qua cái ngưỡng cho phép.

Trong khi đó nhà nước lại thiếu hẳn việc nghiêm khắc rà xoát, đánh giá lại chính sách năng lượng quốc gia hiện nay, thiếu hẳn những nỗ lực xử lý nghiêm khắc và khắc phục tình trạng lãng phí và thất thoát năng lượng quá lớn đang diễn ra hàng chục năm nay.

Nếu đánh giá nghiêm túc chi phí/lợi ích (cost/benefit), bao gồm cả những việc như chi phí cho khắc phục những tác động ngoại vi của việc khai thác than, hoàn trả môi trưởng tự nhiên nơi khai thác, sự thất thoát hàng chục triệu tấn than lậu/năm, sự tàn phá môi trường tự nhiên trong vùng, đánh giá cái được và cái mất so với đòi hỏi của chiến lược năng lượng quốc gia, vân… vân… khó có thể coi việc khai thác mỗi năm khối lượng càng lớn than ở Quảng Ninh là môt thành tựu kinh tế.

Đúng hơn nên coi đó là một thất bại kinh tế lớn và một sai lầm về chiến lược năng lượng – không phải do chủ trương khai thác than, mà do năng lực quản lý và hiệu quả kinh tế yếu kém; đặc biệt quan trọng là do thiếu hẳn một chiến lược năng lượng quốc gia được xác định với những luận chứng vững chắc làm cơ sở cho việc khai thác. Thậm chí còn có thể coi việc khai thác than Quảng Ninh trong khi đất nước ngày càng khan hiếm năng lượng là một trong các ví dụ rõ nét nhất của tình trạng “bóc ngắn cắn dài”, các thế hệ tương lai phải trả giá! Trong cả nước còn có nhiều công trình khai thác titan, khai thác đồng, khai thác các khoáng sản khác để xuất khẩu nguyên liệu với hệ quả xấu tương tự

Rừng phòng hộ và rừng tự nhiên ngày càng bị trọc hóa và chỉ còn lại rất ít; đặc biệt là rừng đầu nguồn đã rất ít mà còn đang tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng. Lũ lụt ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn và khó khắc phục hơn. Đất đai bị xói mòn và sa mạc hóa cùng với tình trạng chất lượng thổ nhưỡng ngày càng xuống cấp đang gia tăng với tốc độ rất đáng lo ngại.

Xin hãy đến tận nơi các khu khai thác này, dù là titan ở dọc bờ biển miền Trung, dù là những  cánh rừng nham nhở do khai thác quặng sắt ở Lào Cai để xuất khẩu sang Trung Quốc, các vùng khai thác vàng bừa bãi ở Bắc Kạn, Quảng Nam, Bình Thuận… – mà chủ yếu là khai thác lậu, những dòng sông chết, những con sông  bị đổi dòng và đôi bờ sụt lở do bán cát, những cánh đồng hoang do các dự án treo… để nhìn tận mắt thực trạng này.

Xin hãy đối chiếu thực tế nêu trên với quan điểm ghi trong nghị quyết Đại hội X: “Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế như lọc hóa dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hóa chất, xi-măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng và một số sản phẩm cơ khí chế tạo” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa X, trang 197-198).

Học từ sai lầm của những nước đi trước

Việt Nam là nước đi sau, có rất nhiều cái bất lợi và cái lợi phải xử lý thỏa đáng – điều này có nghĩa phải tìm ra con đường riêng của mình để không phải lặp lại những sai lầm của các nước đi trước, tránh các nguy cơ trở thành “bãi thải công nghiệp” của các nước khác, đồng thời tìm ra cho mình con đường thuận lợi hơn.

Thị trường thường chật cứng đối với nước đi sau – vì vậy phải khai thác lợi thế nước đi sau trong việc chiếm lĩnh các thị trường ngách (các “niches”), mà muốn thế phải có các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và chính sách đối ngoại cho phép liên kết, chiếm lĩnh những khâu nào đó của các chuỗi cung – ứng trên thị trường thế giới để có khả năng khai thác tốt nhất các thị trường ngách. Công nghiệp hóa vì vậy cần có trọng tâm là chú trọng, tranh thủ khai thác các thị trường ngách, đồng thời tìm đường chiếm lĩnh thị trường mới;.

Hiển nhiên 25 năm qua những đòi hỏi này không được đặt ra hoặc không được đặt ra một cách đúng tầm để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: