Cái khôn- cái họa- cái sợ- cái dại và…

Tác giả: Kỳ Duyên

Cái khôn- cái sợ- cái dại…đều là những thuộc tính của con người. Những thuộc tính đó lại tác động vào xã hội, chi phối sâu sắc xã hội, tụt hậu hay phát triển, bất hạnh hay hạnh phúc. Phát ngôn và Hành động tuần này xoay quanh câu chuyện về thuộc tính con người, cũng là xoay quanh dâu bể cuộc đời…

Đại lễ- lũ lụt và …”cái khôn đi trước rước cái sáng suốt đi sau”

Rất kỳ lạ là những ngày đầu tháng 10 vừa qua, tạo hóa như thử thách sức lực và trí khôn của con người. Cùng lúc, cả xã hội được chứng kiến 2 sự kiện như đối lập, và “đối trọng” nhau. Một đầu- Thủ đô Hà Nội tưng bừng chăng đèn kết hoa, rạng ngời các công trình “chào mừng…” và rạng ngời ánh điện chuẩn bị đón Đại lễ 1000 năm mới có một lần.

Một đầu kia, miền Trung nhớn nhác đối mặt với cơn lũ lớn không mời mà đến, mỗi năm không chỉ một lần. Không điện, không nhà, không cửa. Người dân kinh hoàng “đón lũ” trong cái tối om của đêm trường cô tịch, của đói rét, của cái sống, cái chết mong manh không ranh giới. 85 người dân bị chết, bị mất tích và bị thương, cùng 20 vạn ngôi nhà “chìm đắm” trong mênh mông biển nước…Sự hoạn nạn đã lên đến tột cùng điểm đỉnh.

Tại xã Tân Hóa (Minh Hóa- Quảng Bình), hơn 3500 người dân, trong đó có rất nhiều trẻ em, đã phải chui vào hang tránh lũ, và suốt 5 ngày trời không gạo, không muối, không áo quần thay đổi, sống một cuộc đời …đồ đá. Đói quá, người dân đã phải ăn cả thịt con trâu chết vô tình trôi dạt qua đó (!) Ông Thái Xuân Đào (68 tuổi) có một câu nói thật đau xót: “… Bà con cố gắng kiếp gia súc mà sống thôi…” (Bee.net.vn, 12-10-2010). Có ai đó đã ví, các em học sinh Tân Hóa, khi học bài lịch sử về nguồn gốc loài người, hẳn sẽ rất giỏi bởi những ngày qua, các em đã hiểu thế nào là đời sống người…nguyên thủy. Một sự ví von hài hước mà…cay đắng.

Đây là một trong những bức ảnh ấn tượng nhất trong trận bão lụt Miền Trung do phóng viên Hữu Khá, báo Tuổi Trẻ chụp: khi theo cano đi cứu hộ, phóng viên thấy hai cảnh tay thò ra từ một mái nhà cầu cứu. Sau khi lũ rút, tác giả quay lại tìm nhân vật trong ảnh. Hai cánh tay đó của hai em ruột Nguyễn Văn Khánh (15 tuổi) và Nguyễn Thị Thùy Linh (8 tuổi) ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) . Sau khi mẹ và em nhó nhất của hai em  đã được sơ tán, bố 2 em đưa Khánh và Linh lên gác xép sát mái nhà rồi ông phải đi sơ tán cha mẹ già ở xóm bên. Khi quay lại, nước lũ chảy xiết không thể về được, đành đứng khóc nhìn về nhà. Khánh và Linh sau một đêm kiệt sức vì kêu gào và kinh hãi với dòng nước lũ bốn bề, sáng hôm sau nghe tiếng cano chạy qua 2 anh em lập tức thò tay vẫy gọi. Bức ảnh đã được truyền qua rất nhiều trang báo, diễn đàn, khiến không ít người rơi nước mắt. (more…)

Không vì dân, mọi chính thể sẽ thất bại

Tác giả: Tuần Việt Nam

Giờ phút giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới thì ngày hôm nay được xem là dấu mốc chuyển giao một chặng đường mới của dân tộc, ngày đặc biệt mà toàn dân tộc đã chờ đợi suốt một nghìn năm nay.

Làm gì để Thăng Long bùng cháy hào khí trong thể kỉ 21. Ảnh: Lê Anh Dũng

(more…)

Mạng chó và mạng người

Tác giả: Thảo Dân

Xin ai đó hãy bày tỏ sự khó chịu và hãy phê phán cái tít bài báo này sau khi đọc câu chuyện tôi sẽ kể dưới đây. Tại sao tôi lại mào đầu bằng những dòng cay nghiệt như vậy. Bởi vì lâu nay, chúng ta thường tỏ ra khó chịu và phê phán những cái tít kiểu như thế.

Cái tít này không phải là cái tít tôi vắt đầu suy nghĩ để giật gân “câu” bạn đọc. Bản chất câu chuyện là như thế và tôi không còn cách đặt một cái tít nào khác được.

Câu chuyện là thế này: lâu nay, nạn bắt trộm chó càng ngày càng lan rộng. Trước kia, những kẻ bắt trộm chó lợi dụng đêm tối dùng bả vứt cho chó ăn. Chó ăn phải bả thì hết đường chạy. Nhưng đến thời @ thì bọn bắt trộm chó dùng xe máy Nhật để thực thi “công vụ”. Cùng với xe máy, bọn trộm chó dùng cả loại súng hơi đặc biệt. Bóp cò một cái là chó gục ngay. Bọn trộm chó cứ thế ung dung quấn băng dính vào mõm chó cho nó khỏi kêu, cắn khi tỉnh lại và bỏ vào bao tải lướt đi.

Ăn trộm chó ngày nay trở thành nghề của một số kẻ lười nhác mà lại thích có tiền tiêu. Thế là mua sắm một số đồ nghề để bắt trộm chó. Bắt trộm chó chỉ có thể bắt ở nông thôn vì người ta hay thả chó chạy rông ngoài ngõ, ngoài đường. Ở nhiều làng, vì mất chó nhiều quá mà người ta căm thù bọ bắt trộm chó vô cùng. Thế là họ thề “ăn tươi nuốt sống” bọn bắt trộm chó.

Hiện trường một vụ giết kẻ trộm chó tại TP Vinh, Nghệ An.

(more…)

TƯƠNG PHẢN

Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -
Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -
Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -
Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -
Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -
Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -
Những hình ảnh tương phản - Kinh nghiệm sống -

BẠN VẪN CÒN THAN PHIỀN?

Hãy quan sát xung quanh mình và cảm ơn những gì mình đang có trên cuộc đời ngắn ngủi này

Chúng ta thật may mắn, chúng ta có nhiều hơn những gì mà chúng ta cần để bằng lòng

Chúng ta hãy than phiền ít hơn và hãy cho nhiều hơn

  • Da Vàng (sưu tầm, bình luận)

Đừng đổ tất cả lỗi lầm cho giáo dục

Tác giả: Khương Duy

Giáo dục cho học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức không chỉ nhờ vào cải cách GD. Không có những biến chuyển tích cực về hệ thống liên quan tới kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa thì việc hô hào nâng cao đạo đức học sinh, sinh viên trong nhà trường hoàn toàn vô ích.

Mỗi khi học sinh, sinh viên gây ra những sự việc đau lòng, ngay lập tức dư luận xôn xao “Giáo dục hỏng rồi!” và đổ vấy mọi tội lỗi cho GD. Đành rằng từ khi bắt đầu biết nhận thức đến lúc thành niên, những gì con người thu nhận được từ nhà trường là vô cùng quan trọng, nhưng liệu nhà trường có chịu trách nhiệm hoàn toàn trước sự suy thoái đạo đức của một bộ phận học sinh, sinh viên ngày nay?

Nhân chi sơ, tính bản gì?

Nhận thức của chúng ta thường lệch lạc: Người cho rằng trẻ em như tờ giấy trắng, ngây thơ trong sáng. Người cho rằng bản tính con người sinh ra vốn hung ác, nên chỉ cần dịp thì bộc lộ mà thôi (đây là bình luận của không ít người khi xem clip nữ sinh đánh nhau). Tuy nhiên xem xét thấu đáo, con người mang sẵn trong mình tính thiện và tính ác.

Sự kết hợp hai bản tính này giúp con người từ thuở săn bắt, hái lượm sinh tồn, vì đấu tranh sinh tồn không chỉ là quá trình tranh giành sự sống mà còn là quá trình hợp tác để cùng chống lại thiên nhiên, kẻ thù.

Nếu nhìn vào quãng thời gian tiến hóa của con người, tới 9/10 (thậm chí còn dài hơn) quãng thời gian kể từ thời nguyên thủy đó, chúng ta đã sống cuộc sống hoang dã như thế. Con người lịch sự, văn minh mới chỉ “đổi đời” trong quãng thời gian vô cùng ngắn ngủi. Do đó, những tính cách từ của thời kỳ săn bắt, hái lượm ấy vẫn ảnh hưởng nhiều đến chúng ta theo nguyên lý di truyền.

Mỗi đứa trẻ từ khi sinh ra chúng đã mang sẵn trong mình hình dạng của cả thiên thần và ác quỷ.
Minh họa: Gettyimages

Như vậy, công bằng mà nói con người, từ ấu thơ, sinh ra không hoàn toàn là tờ giấy trắng hay tờ giấy đen, chúng mang sẵn trong mình hình dạng của cả thiên thần và ác quỷ. Thế nhưng, cái gì quyết định tính cách nào sẽ được bộc lộ? Đó chính là môi trường GD.

Câu chuyện Nhà tù Standford

Vào thập kỷ 1970, học giả người Mỹ- Philip Zimbardo- tiến hành thí nghiệm nổi tiếng Nhà tù Standford. Trong đó ông chọn ra các sinh viên có lý lịch tốt, sức khỏe tốt, tâm lý tốt thông qua hàng loạt bài kiểm tra rồi ngẫu nhiên chọn một số sinh viên đóng vai tù nhân và một số sinh viên đóng vai cai ngục. Tầng hầm tòa nhà Khoa Tâm lý ĐH Stanford được dựng thành trại giam.

Các sinh viên đóng vai tù nhân sẽ bị cảnh sát đến nhà bắt, đưa về thẩm vấn, và tống vào những buồng giam chật hẹp. Các sinh viên đóng vai cai ngục được phép cầm chìa khóa các buồng giam và tùy ý đối xử với “tù nhân”. Lẽ ra thí nghiệm sẽ kéo dài hai tuần, nhưng chỉ đến ngày thứ sáu Zimbardo buộc phải dừng lại vì tất cả đã đi quá giới hạn: Các sinh viên đóng vai cai ngục trở nên tàn nhẫn, đánh đập và hành hạ bạn bè không thương tiếc, còn các sinh viên đóng vai tù nhân thì khủng hoảng về tinh thần.

Như thế, có thể thấy môi trường đã biến những sinh viên tốt như nhau thành những người tính cách trái ngược chỉ trong vài ngày và khiến phần ác trong họ trỗi dậy khi đã ngấm men say của hoàn cảnh.

Về sau, bằng các nghiên cứu hoàn thiện về sự kiện các quân nhân Mỹ (những người có tâm lý và nhân cách bình thường) đối xử tàn bạo với tù binh Iraq tại nhà tù Abu Ghraib, Zimbardo kết luận, có ba yếu tố quyết định tính cách thiện hay ác của con người sẽ được bộc lộ: Bản tính, hoàn cảnh, hệ thống và mối tương tác giữa chúng.

Bản tính là chất bột sẵn có để hoàn cảnh nhào nặn (tất nhiên cần lưu ý con người không hoàn toàn thụ động mà có thể tự suy nghĩ, tự kiềm chế, tự quyết định trước hoàn cảnh – tuy nhiên đây lại là hạn chế của lứa tuổi vị thành niên.).Yếu tố hệ thống là yếu tố cần được xem xét kỹ, hệ thống rộng hơn cả hoàn cảnh và bản tính, gồm các yếu tố văn hóa, chính trị, pháp luật, giáo dục tác động lên hoàn cảnh và bản tính.

Không thể đổ lỗi hoàn toàn cho GD

Trở lại những vụ việc học trò đánh hội đồng, hoặc thực trạng học sinh hư, chúng ta cần nhìn nhận rõ ba yếu tố bản tính, hoàn cảnhhệ thống để không đem GD ra giơ đầu chịu báng.

Trước khi lên án đạo đức học sinh, sinh viên và đổ lỗi cho GD, cần phải  xem lại
tất cả hệ thống quản lý xã hội của chúng ta..Minh họa: Gettyimages

Thứ nhất, về bản tính, như đã nói, cần nhận thức được rằng tính “ngoan” và “hư” của con người vốn tiềm tàng từ khi mới sinh ra và việc tính cách nào phát triển, phụ thuộc vào sự tương tác với hoàn cảnh và hệ thống. Môi trường không tạo nên cái ác mà thực chất chỉ khơi dậy cái ác trong con người.

Thứ hai, về hoàn cảnh hay tình huống, môi trường sư phạm thực sự tạo ra các hoàn cảnh nhưng không phải tất cả. Nếu học hai buổi một ngày, nhiều lắm học sinh cũng chỉ có tám tiếng tại trường. Sinh viên chỉ học vài tiết ở trường, thậm chí cả tuần chỉ phải đến trường vài buổi. Thời gian còn lại nhà trường không thể quản lý hết. Dù giáo viên có sát sao đến đâu, dù trên lớp có được GD kỹ đến đâu, khi ra khỏi khuôn viên trường, học sinh, sinh viên bước vào một môi trường khác với hoàn cảnh mới, vẫn có thể bị khơi dậy tính cách “hư”, nhà trường không thể kiểm soát được.

Vấn đề cuối cùng là hệ thống – thiết nghĩ đây mới là vấn đề nan giải nhất. Nếu hiểu hệ thống theo kết luận của Philip Zimbardo (các lực lịch sử, văn hóa, chính trị, luật pháp… bao trùm lên hoàn cảnh và bản tính của con người), chúng ta sẽ thấy GD oan ở đâu và vấn đề nan giải tới mức nào.

GD chỉ là một phần trong hệ thống này, thậm chí một phần bị chi phối bởi các phần còn lại trong hệ thống. Phương pháp GD do lịch sử để lại, nội dung GD còn do yếu tố chính trị chi phối, quan hệ thầy-trò chịu ảnh hưởng của văn hóa và sự điều tiết của GD pháp luật chưa hiệu quả. Nếu nhìn nhận như thế, có thể thấy, hoàn cảnh làm bộc lộ tính xấu của học sinh không phải chỉ  tự thân GD sinh ra.

Thí dụ việc sinh viên cuối học kỳ tìm cách “đi thầy” để kiếm điểm cao không phải là con đẻ của môi trường GD. Nếu không có một “văn hóa” hối lộ trong xã hội, không phải do hệ thống pháp luật lỏng lẻo khiến nạn hối lộ ngang nhiên hoành hành, liệu sinh viên có nghĩ tới việc đó không. Đây là lỗi mang tính hệ thống. Nhà dột phải dột từ nóc dột xuống.

GD cho học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức không chỉ nhờ vào cải cách GD. Không có những biến chuyển tích cực về hệ thống liên quan tới kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa thì việc hô hào nâng cao đạo đức học sinh, sinh viên trong nhà trường hoàn toàn vô ích. Ở trường các em là thiên thần, nhưng khi ra ngoài nhà trường, các hoàn cảnh khác không cho phép các em là thiên thần thì thiên thần sẽ gãy cánh. Trước khi lên án đạo đức học sinh, sinh viên và đổ lỗi cho GD, cần phải  xem lại tất cả hệ thống quản lý xã hội của chúng ta.

Khi xã hội từ bỏ sự “thượng tôn” văn bằng, pháp luật độc lập và nghiêm minh, chính trị minh bạch, văn hóa sống trở nên lành mạnh thì chắc chắn đạo đức con người sẽ khởi sắc.

TÌNH NGƯỜI

Sau khi bài “Thân cò 76 tuổi” đăng trên báo Tuổi trẻ và Da Vàng Blog, chúng tôi đã nhận được rất nhiều chia sẻ của bạn đọc gần xa. Đa số đề cảm thân cho một số phận neo đơn, một thân phận hẩm hiu lúc tuổi già xế bóng.

Thú thật rằng, với những ai còn có chút xót thương đồng loại, còn biết vương vấn tình người đều không thể cầm được nước mắt khi xem những hình ảnh về cụ Đoàn trong bài viết.

Bao nỗi khó nhọc, gian truân đều trút hết lên vai cụ, trải qua bao gian kho nhọc nhằn, giờ đây lưng cụ đã cong vòng trĩu nặng.

Nhìn những hình ảnh cụ lặn lội thân cò tìm kiếm cái ăn qua ngày, ta thấy ở cụ một nghị lực sống phi thường.

Giữa một xã hội với bao bộn bề lo toan, khi thấy một mãnh đời bất hạnh neo đơn, tình người lại trỗi dậy. Đó là cuộc sống, là cái bản chất của con người.

Rất cảm ơn các bạn gần xa đã chia sẻ, quan tâm. Thiết nghĩ, với cụ như thế là đủ, bởi những nỗi cơ cực mà cụ đã trải qua gần hết kiếp người thì không có gì bù đắp được.

Mong cuộc sống quanh ta ngày càng ít đi những số phận không may như cụ.

  • Da Vàng

Sài Gòn chiều cuối năm

Sài Gòn chiều cuối năm. Sắp đến tết rồi, mọi người đều hối hả làm những việc còn sót lại của năm cũ để chào năm mới. Ra đường thấy người ta mang quà đi tặng nhau, đám học sinh, sinh viên xa nhà lần lượt xách va li hớn hở hồi hương về với gai đình, về với ruộng vườn, về với ký ức tuổi thơ của một thời đã xa …

Thế là một năm nữa sắp qua, một năm mới lại đến! Cái quy luật của tự nhiên ấy cứ âm thầm, lặng lẽ gặm nhấm đời người. Cái quy luật rất tự nhiên ấy cứ đến hẹn lại lên, làm cho tấm lòng người con xa xứ cứ nao nao lòng.

Chiều Sài Gòn, mọi người vẫn hối hả, dòng người vẫn tấp nập, cuộc sống vẫn còn nguyên vẹn cái ồn ào vốn có của nó.

Ngồi một mình trong quán cà phê, nghĩ đến tết, nghĩ đến ngày được về với quê hương, về với dòng sông tuổi thơ quen thuộc là lòng mênh man buồn.

Thế là thấm thoát đã hơn mười năm mình xa quê hương, khoảng thời gian đủ dài để gặm nhấm sự thay đổi của đời người, của làng quê, của kỷ niệm, của nhân tình thế thái.

Thời gian cứ âm thầm trôi, trôi mãi. Đám bạn thời thơ ấu ấy, cái thời cùng nhau chăn trâu trên đồng ruồng mênh mông, cái thời mà cùng nhau tắm trên dòng sông quê hương ấy giờ đã lưu lạc tứ xứ với cơm áo gạo tiền.

Dòng sông quê hương thân thương ngày ấy vẫn còn đó, ngọn đồi bên cánh đồng xanh ngát vẫn còn đây, tất cả vẫn còn như một nhân chứng của một thời tuổi thơ tươi đẹp.

Thời gian trôi qua, dòng sông xưa vẫn đợi chờ những đứa trẻ về tắm mát, ngọn đồi vẫn còn đó, vẫn lặng lẽ như người vọng phu mòn mỏi đợi chồng về.

Cũng như đời người qua nhanh, dòng sông ngày ấy biết có còn xanh trong, tươi mát như ngày xưa? Ngọn đồi có còn trĩu cành những quả sim, quả chà là ngọt lịm? Hay chỉ còn là những kỷ niệm đẹp của một thời nông nổi?

Câu trả lời rất có thể chỉ còn là kỷ niệm. Đám bạn đã phiêu bạt tận chân trời với những lo toan chồng chất như sự vẫn đục của dòng nước trên sông mỗi mùa lũ lụt và sự tan tác của ngọn đồi thơ mộng.

Tết này có còn vui như những cái tết xưa?

(Thân tặng: Thuận, Mai, Dùng, Cường và các bạn)

  • Da Vàng

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ

Nếu trừng phạt đàn bà, tôi sẽ nhốt cô ta vào một cái phòng không có gương

(M.Asa)

Bạn chớ lên án người phụ nữ nào bay từ người đàn ông này đến người đàn ông khác. Cô ta đang tìm người đàn ông chung thủy

(Gớt)

~ * ~
Ngay cả những người đàn ông thông minh nhất cũng không thể nói về đàn bà nhiều điều tốt và nhiều điều xấu được như chính bản thân những người đàn bà ấy nghĩ về chính họ

(Banzac)

Tư duy luẩn quẩn

Tác giả: Hà Văn Thịnh (Đại học Khoa học Huế)

Không thể vin cớ, hạt nix không có trong danh mục cấm (lỗi do sự kém hiểu biết của những người làm ra danh mục ấy) mà nói rằng cho nhập (UBND tỉnh Khánh Hoà) là đúng và không cho sử dụng (Bộ TN-MT) là cũng… đúng.

Xung quanh chuyện UBND tỉnh Khánh Hoà cho phép Huyndai Vinashin (HVS) nhập khẩu 20.000 tấn hạt nix trong khi doanh nghiệp này chưa xử lý xong gần một triệu tấn hạt nix đã qua sử dụng, ông Lưu Kế Sơn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên Môi trường nói rằng: Không cấm nhập hạt nix nhưng không cho sử dụng (!) và, danh mục cấm không có nên nhập cũng không sao vì “riêng nó thì không độc. Nó chỉ độc khi mình dùng nó phun vào các tàu cũ thì hạt nix bị vỡ ra và nó lẫn vào vào mỡ, dầu, sơn và phát tán ra môi trường xung quanh… thì mới là độc, nguy hại đến môi trường” (VietNamNet, 8/1/2010).

Nghe cách nói ấy, người đọc không thể hiểu nổi vì chẳng khác gì nói bản thân tội phạm nguy hiểm không nguy hại, chỉ đến khi nó trốn thoát nhà tù, gây án thì mới nguy hại!

Những núi hạt nix đang chờ xử lí. Ảnh: Võ Văn Tạo

Không thể vin cớ rằng hạt nix không có trong danh mục cấm (lỗi do sự kém hiểu biết của những người làm ra danh mục ấy) mà nói rằng cho nhập (UBND tỉnh Khánh Hoà) là đúng và không cho sử dụng (Bộ TN-MT) là cũng… đúng.

Rất cần đặt ra những kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, không thể chấp nhận “nguyên tắc” phi lý giữa có hại – không có hại mà Bộ TN-MT quan niệm. Hậu quả của một thứ tưởng chừng như vô hại, khi đem ra cạo gỉ vỏ tàu trở nên khôn lường là điều ai cũng biết (ông Lưu Kế Sơn còn “bỏ qua” chuyện khi những hạt kim loại đặc biệt có tên là nix, bắn vào vỏ tàu tạo ra những tiếng ồn chói tai và vô số những hạt bụi nhỏ li ti chui vào phổi của hàng vạn người dân). Chừng nào chưa xử lý xong gần 1 triệu tấn hạt nix sau khi sử dụng thì chừng đó mọi sự tiếp tay, dù trực tiếp hay gián tiếp là không thể chấp nhận.

Thứ hai, ông Lưu Kế Sơn cho biết: Bộ TN-MT đã có 6 yêu cầu về việc sửa chữa tàu của Vinashin sau khi công ty này gây ra “khuyết điểm lớn, kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng”, nhưng Vinashin vẫn làm ngơ thì ai là người phải chịu trách nhiệm? Hậu quả nghiêm trọng phải gắn liền với hành vi xâm hại nghiêm trọng. Không lý gì những tương tác – liên kết – đùn đẩy của các nhóm lợi ích cứ tìm cách dẫn dư luận đi vòng vo rồi thoả sức tung hoành vì những người làm chuyện đó biết rằng giơ cao đánh khẽ là chuyện của… bình thường!

Thứ ba, danh mục không có nhưng nó nguy hại thì phải bổ sung ngay. Điều đó đâu có khó? Quyền lực trong tay Chính phủ và Bộ TN-MT là cơ quan có trách nhiệm cao nhất trong Chính phủ về vấn đề bức xúc của dư luận. Điệp khúc “xem xét, xử lý, đệ trình” luôn là một kế hoãn binh để hoá bùn tất cả những gì khuất tất, nguy hại. Cách làm đó trong thời đại thông tin toàn cầu là một sự “ngộ nhận” cố tình bất chấp dư luận và sức khoẻ của người dân Khánh Hoà.

Thứ tư, Bộ TN-MT cho rằng Bộ “đã có những biện pháp cứng rắn” nhưng tại sao hạt nix vẫn được nhập một cách bình thường? Nếu không có sự phát hiện của báo chí thì sự thể coi thường kỷ cương, phép nước sẽ đến mức nào?

Thứ năm, tại sao ông Lưu Kế Sơn có thể nói: “Tôi nghĩ rằng hạt nix đã qua sử dụng có tác hại môi trường thì xử lý không khó. Và nó tác hại đến môi trường xung quuanh không nhiều, không lớn như các chất khác đâu”, trong khi ở đoạn trích dẫn trên, rõ ràng ông đã nói là hạt nix “độc, nguy hại đến môi trường”? Cách lập luận như vậy có phần mâu thuẫn. Mặt khác, nếu cho rằng có nhiều chất độc hại khác độc hơn nix sau khi đã sử dụng, phải chăng Bộ TN-MT muốn nói rằng chúng vẫn đang ngang nhiên tồn tại? “Cái gì độc hại” hơn nữa mà Bộ TN-MT đang bỏ qua là điều cần phải tìm hiểu kỹ càng.

“Không cấm nhập nhưng không cho sử dụng” có lẽ là câu nói hay nhất trong tuần đầu tiên của năm 2010. “Độc hại” nhưng không độc hại bằng thứ khác cũng cạnh tranh luôn ngôi vị đó. Phần còn lại để độc giả tự bình chọn là câu nào hay hơn.

Trong khi dư luận tìm kiếm sự thật thì trước hết, nếu đã tìm ra cái sai thì đừng thanh tra nữa mà hãy chấm dứt ngay vụ việc theo “công thức 6 điểm” mà Bộ TN-MT đã đề ra: Tốn tiền dân, của nước nhập hạt nix về để đó vẫn còn hơn là tiếp tay cho những sai phạm ngày càng nghiêm trọng hơn. Bởi vì, nếu không chấm dứt sai phạm thì chẳng khác gì dung túng, vẽ đường cho nó hoành hành!

(Nguồn Tuanvietnam.net)

Sự tha hoá của cái Tôi

Khuyết tật của đời sống hiện đại (Phần 1)

Những gì đã và đang xảy ra trên thực tế cho thấy nặng nề không kém so với hình thức nô lệ trước đây, thậm chí nếu xét về quy mô và ảnh hưởng là lớn hơn, vì tính chất của nó phức tạp và tinh vi hơn rất nhiều biến của một bộ phận lớn của nhân loại trong thế giới hiện đại.

Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét và phân tích về chúng.

Khuyết tật 1. Sự tha hoá của cái Tôi

Ở một bộ phận lớn của thế giới là khu vực chậm phát triển, hiện tượng cái Tôi tha hóa xảy ra rất phổ biến. Vậy có mối liên quan nào giữa sự tha hóa này với trạng thiếu tự do không? Theo quan điểm của tôi, chính sự thiếu tự do đã khiến cho đời sống tinh thần của con người trở nên mất cân bằng và do đó tạo ra sự tha hóa của cái Tôi.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì Tự do là nguồn gốc sự phát triển của con người. Khi con người không có các quyền tự do thì dần dần con người sẽ đánh mất những kinh nghiệm về tự do, mất ý chí đòi tự do cũng như mất cảm hứng sử dụng tự do như là phương tiện để phát triển các giá trị tinh thần của mình. Nếu không có tự do thì con người không có tiền đề không có không gian tinh thần đầy đủ, không có sự sạch sẽ tâm hồn để tiếp nhận tất cả các khả năng để phát triển, tức là không có năng lực. Sự hạn chế của không gian tự do bên ngoài và bên trong đã làm cho cái Tôi tha hoá mà biểu hiện rõ rệt nhất của nó là sự mất mát năng lực. Tôi cho rằng đây là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nếu không chúng ta vẫn tiếp tục xây dựng xã hội bằng những viên gạch hỏng mà không lý giải được tại sao xã hội không phát triển. Thực tế ở nhiều quốc gia lạc hậu cho thấy, sự tha hoá của cái Tôi là kết quả của một đời sống tinh thần phát triển không lành mạnh dưới tác động của sự ràng buộc của tư tưởng, sự bao vây của văn hóa lạc hậu, sự níu kẻo của nghèo đói và trên hệ là sự cai trị của nhà nước. Tất cả, những yếu tố như vậy xuất hiện trong mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, văn hóa, chính trị cho đến giáo dục, làm cho con người trở nên lệch lạc và kết quả là con người không còn đủ các năng lực để thích nghi với cuộc sống.

Bài viết trích trong cuốn Tiểu luận mới “Cội nguồn cảm hứng” của tác giả Nguyễn Trần Bạt, NXB Hội nhà văn.

Khi đặt bút viết quyển sách này, tôi như con chim hót những tiếng hót được khích lệ bởi âm thanh tự do của các bậc tiền bối như John Locke, Baron de Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, John Stuart Mill… Những tiếng hót ấy còn mang âm hưởng của dân tộc Việt Nam, một dân tộc có lịch sử lâu dài, quyết liệt trong việc giành tự do. Những tiếng hót ấy chất chứa tình yêu đối với con người và thân phận con người. Những tiếng hót ấy là sự trăn trở trong quá trình đi tìm những nhân tố ảnh hưởng đến đời sống con người và sự hình thành các giá trị con người. Tôi viết bằng cả tấm lòng của mình, bên ngoài mọi động cơ, kể cả động cơ hàn lâm…”

Trên phương diện kinh tế có thể thấy nền kinh tế chịu sự áp đặt của các quan điểm chính trị, được mô hình hóa bằng tiêu chuẩn chính trị mà không phải bằng các tiêu chuẩn, hay các đặc thù kinh tế. Trong các mô hình kinh tế này, có không ít mô hình được lựa chọn dựa trên những quan điểm chính trị khác biệt, mâu thuẫn với sự phát triển tự nhiên của đời sống kinh tế. Sự lựa chọn mô hình kinh tế theo những tiêu chuẩn chính trị được dẫn hướng bởi một hệ tư tưởng cố định đã kéo theo hậu quả là trói buộc thân phận của các dân tộc vào những quan điểm chính trị cụ thể, làm mất tính năng động, tính tự do của các lực lượng kinh tế và ảnh hưởng sống còn đến đời sống phát triển. Hệ quả của nó là con người chuẩn bị toàn bộ các năng lực của mình theo tiêu chuẩn của nền kinh tế mà nhà cầm quyền định xác lập và khi mô hình kinh tế ấy sụp đổ, nhường chỗ cho một loại hình kinh tế khác thì toàn bộ năng lực đã chuẩn bị của con người trở nên không tương thích với những đòi hỏi mới. Nhìn trên phương diện chính trị, chúng ta có thê thấy rất rõ sự cai trị của các nhà nước. Tất cả các mặt đời sống của con người đều bị áp đặt theo một khuynh hướng được qui định bởi lý tưởng chính trị của những người cầm quyền. Chính việc bị áp đặt bởi một khuynh hướng và nhất là khi nhu cầu chính trị của khuynh hướng ấy có sự khác biệt với nhu cầu phát triển của đời sống đã gây ra hiện tượng mất mát năng lực, thiếu hụt năng lực chính trị của toàn xã hội. Hệ thống chính trị sử dụng tất cả những phương tiện có trong tay để hướng dẫn con người chuẩn bị những năng lực phù hợp với nhu cầu chính trị của nó, tức là những thứ mà hệ thống chính trị cần chứ không phải là những thứ mà cuộc sống đòi hỏi. Đây là một hiện tượng khá phổ biến ở các quốc gia chậm phát triển về mặt chính trị, những nước mà đặc trưng cơ bản của nó là thiếu dân chủ, không có dân chủ.

Một vấn đề nữa của các nước chậm phát triển là có nền văn hóa vừa lạc hậu vừa phi tự nhiên, do đó, nó ảnh hưởng đến sự phát triển về mặt tinh thần của con người. Văn hóa luôn có tính lạc hậu tương đối, nếu nó không cởi mở và tiếp nhận tự nhiên các yếu tố mới, nó sẽ tự xơ cứng và không thể trở thành môi trường tốt cho sự hình thành các giá trị cá nhân. Sự lạc hậu của văn hóa là do tính khép kín của nó, còn tính phi tự nhiên của văn hóa là do sự áp đặt chính trị của tập đoàn cầm quyền. Trong những nền văn hóa đó, con người được hướng dẫn, được tuyên truyền những tiêu chí đạo đức, tiêu chí năng lực, tiêu chí khoa học công nghệ, tiêu chí chính trị một cách máy móc và xem những tiêu chí ấy như những tiêu chí ấy hoàn toàn không thể thay đổi được, vừa có giá trị điều khiến, vừa có giá trị lãnh đạo. Nhưng khi thực tế chứng minh rằng sự tuyên truyền ấy là nhầm lẫn, lý tưởng chính trị đó là nhầm lẫn và những tiêu chí ấy hoàn toàn không có giá trị phục vụ cho đời sống phát triển thì những xã hội hưởng thụ sự tuyên truyền ấy bỗng nhiên mất toàn bộ năng lực. Thế giới luôn biến đổi không ngừng. Xu thế toàn cầu hóa cưỡng bức mọi nền văn hóa phải mở cửa và không ai còn cơ hội để sống biệt lập cả. Vậy con người sẽ ra sao khi phải sống bằng những năng lực đơn giản và được chuẩn bị sai trong những điều kiện mới của thời đại?

Khi chính trị, kinh tế và văn hóa lạc hậu, tất yếu giáo dục cũng sẽ lạc hậu. Giáo dục là khâu trực tiếp giúp con người chuẩn bị năng lực của mình nhưng do sự áp đặt của chính trị mà ở các nước chậm phát triển, con người không được trang bị những kiến thức để rèn luyện những năng lực mà cuộc sống cần. Hệ thống giáo dục chỉ trang bị cho con người những kiến thức mà hệ thống chính trị cần, nhưng những kiến thức này không những lạc hậu mà còn hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu của cuộc sống. Xét về mặt triết học và chính trị học, chương trình giáo dục không có tính đa dạng cần thiết của khoa học nhận thức bởi vì nó chỉ dựa trên một loại triết học duy nhất, dựa trên một hệ tư tưởng cố định phù hợp với nhu cầu của hệ thống chính trị. Thời lượng trong chương trình giáo dục bị chiếm dụng một cách không thương tiếc cho những nguyên lý để duy trì sự ổn định của những khái niệm đã cũ. Người ta đã không xem người lao động như một thực thể con người với các quyền độc lập của nó. Đầu ra của hệ thống giáo dục này là lực lượng lao động thiếu năng lực hay có những năng lực không bán được trên thị trường lao động.

Sống trong những môi trường chính trị, kinh tế và văn hoá phi dân chủ, phi tự nhiên một cách lâu dài sẽ làm con người biến dạng, con người không có đủ cảm hứng và cũng không đủ năng lực để tạo ra giá trị, tạo ra cuộc sống của chính mình. Đó không phải là cuộc sống của sự tiến bộ mà là cuộc sống mất cân bằng hay bị tha hoá từ bên trong. Quan sát hàng ngày rất dễ thấy hiện tượng mất mát, thiếu hụt năng lực ở số đông con người trong các xã hội chậm phát triển. Có thể kể ra ở đây một số loại năng lực cơ bản, đó là:

Mất năng lực phản ánh sự thật:

Có thể nói sự tha hoá của cái Tôi chính là sự biến dạng, sự mất cân đối của hình ảnh cuộc sống trong tâm hồn mỗi con người thông qua nhận thức. Chúng ta đều biết, chất lượng của một tấm ảnh phụ thuộc vào chất lượng của máy ảnh, một cái máy ảnh tốt sẽ cho một tấm ảnh có chất lượng, một cái máy ảnh tồi sẽ cho một tấm ảnh hỏng… Tấm ảnh ấy bị hỏng tức là anh không chụp được một cách chính xác các cấu trúc của cuộc sống, anh có những dị tật mà vì thế anh nhận dạng cuộc sống một cách méo mó. Một trong những dị tật ấy chính là sự mất mát năng lực nhận thức và phản ánh cuộc sống trung thực như nó vốn có. Năng lực phản ánh sự thật là một trong những năng lực quan trọng nhất để xác lập ranh giới giữa cái Tôi lành mạnh và cái Tôi không lành mạnh.

Khi con người bị khuyết tật về mặt nhận thức thì mọi diễn biến cuộc sống bên ngoài khi phản ánh thông qua nó sẽ bị méo mó. Mặc dù trong con người luôn có bản năng phản kháng tự nhiên đối với những sức ép những biến dạng mà cuộc sống, xã hội, thể chế tạo ra nhưng do chịu sự áp đặt lâu dài nên khả năng đó không được rèn luyện và vì thế hệ miễn dịch của con người trở nên thoái hoá, còn người mất đi cả năng lực đề kháng trước những biến dạng mà văn hoá hay chính trị có thể gây ra. Sự mất năng lực đề kháng khiến con người trở nên bạc nhược, thiếu ý chí. Mất năng lực phản ánh sự thật nên con người cũng mất luôn cả năng lực rung động trên những đối tượng khác nhau. Những đòi hỏi của cuộc sống do đó được phản ánh một cách méo mó hoặc là không được phản ánh. Alfred de Musset, nhà văn lớn của Pháp từng thốt lên rằng tôi biết nhiều tác phẩm vĩ đại đôi khi chỉ là những tiếng nấc. Nhưng dường như ở những xã hội không tự do nơi con người tha hoá và lạc hậu về mặt nhận thức, không ai có thể nghe thấy những tiếng nấc, tiếng khóc của cuộc sống. Đó là một không gian tinh thần không có dấu hiệu con người.

Cái Tôi khi nhận thức sai sẽ gây hại cho chính nó, bởi vì, về cơ bản con người nhận thức và hành động cho những lợi ích của mình, cho nên, khi con người nhận thức sai, chụp ảnh cuộc sống sai thì con người tự dẫn mình đến những chỗ sai và tạo ra sự thất thiệt cho chính mình. Con người cố gắng sống một cách biệt lập, cố gắng không tương tác với thế giới bên ngoài, cố gắng đóng mọi cánh cửa để không có ánh sáng nào lọt vào, để không ai phát hiện ra tình trạng khuyết tật của mình. Việc đó diễn ra lâu đến mức con người không còn cảm thấy những khuyết tật của mình nữa. Chính điều đó đã tạo ra cái chết lâm sàng của đời sống tinh thần, tức là con người mất đi năng lực xúc động, năng lực nhận biết về cuộc sống, về chính bản thân mình, cũng như không nhận ra sự thoái hoá trong nhận thức của mình. Khi nhận thức sai, con người sẽ mắc phải sai lầm trong quá trình tương tác với xã hội. Những sai lầm đó sẽ tất yếu gây ra những thất thiệt cả về vật chất lẫn tinh thần cho con người.

Thiếu hụt năng lực xấp xỉ tương lai:

Nhận thức là sự phản ánh của chủ thể nhận thức về đối tượng nhận thức và trên một bình diện rộng lớn thì đấy chính là cuộc sống. Nhưng thông thường, trình độ nhận thức của con người không đo được ngay tất cả các khía cạnh của cuộc sống hay các giai đoạn, các trạng thái khác nhau của cuộc sống. Có những giai đoạn có những thành tố xuất hiện mà với kinh nghiệm tại thời điểm quan sát, con người chưa đủ năng lực để đánh giá đúng. Cho nên, trong nhận thức có một giai đoạn suy tưởng, tức là dùng trí tưởng tượng để hình dung về những đối tượng mới, những thành tố mới. Đấy chính là quá trình xấp xỉ tương lai của mỗi cá nhân. Con người luôn luôn cố gắng nhận thức một cách gần đúng tương lai của mình nhưng con người không đoán được hết tương lai mà luôn xấp xỉ tương lai và tương lai của con người phụ thuộc rất nhiều vào năng lực xấp xỉ ấy. Nghiên cứu sự lành mạnh của một xã hội cũng chính là nghiên cứu sự lành mạnh của quá trình hình dung hay xấp xỉ tương lai của mỗi cá nhân trong xã hội. Thiếu hụt năng lực xấp xỉ tương lai, con người sẽ trở nên mất phương hướng và tất nhiên họ sẽ không thể có sự cân bằng trong miền tương lai mà họ không có năng lực hình dung.

Ai cũng phải có một điểm nhìn, tức là phải nhìn thấy mình trong tương lai, khi con người không còn nhìn thấy mình nữa là con người đã chết về mặt tinh thần. Khi số đông nhìn thấy mình trong quá khứ thì xã hội không phát triển. Con người không có tương lai, quá khứ trở thành hình mẫu của tương lai; tương lai cấu trúc từ quá khứ, đấy chính là tha hoá. Quẩn quanh với những hình mẫu cũ, con người không có khả năng tưởng tượng hay không có khả năng sáng tạo thì đồng nghĩa với việc con người không phát triển. Tương lai là trạng thái ngày mai của con người mà hôm nào con người cũng phải có ngày mai của nó. Con người phải hình dung tương lai một cách liên tục mới là con người lành mạnh. Dấu hiệu quan trọng chứng minh sự không thoái hoá của cái Tôi là năng lực duy trì liên tục khả năng hình dung ra tương lai.

Mất năng lực hướng dẫn chính trị:

Ở những nước lạc hậu về chính trị, người ta mặc nhiên thừa nhận nhân dân là người được hướng dẫn, còn nhà nước là người hướng dẫn. Chính vì khẳng định rằng nhân dân là người có quyền được hưởng sự hướng dẫn chính trị và chỉ có mỗi quyền ấy thôi nên các nước này không có xã hội dân chủ. ở những quốc gia này, nhân dân không có quyền để phổ biến các quan điểm của mình. Việc hạn chế quyền tự do phổ biến các quan điểm để giành cho một quan điểm có toàn bộ các quyền tự do làm cho xã hội được hướng dẫn lệch. Theo lẽ tự nhiên, nhân dân cũng có những hướng dẫn chính trị, nếu sự hướng dẫn chính trị của hệ thống chính trị không được cân bằng bởi những hướng dẫn theo chiều ngược lại này tất yếu sẽ trở nên lệch lạc. Có thể thấy hiện tượng mất năng lực hướng dẫn chính trị biểu hiện rất rõ ở một tầng lớp rất quan trọng trong xã hội, đó là tầng lớp trí thức. Trí thức là một lực lượng tham gia vào quá trình hướng dẫn chính trị dưới hình thức các hoạt động khoa học, giới trí thức cũng là thành phần tạo ra sự hướng dẫn xã hội nhưng ở các nước chậm phát triển giới trí thức đang mất năng lực hướng dẫn xã hội. Đời sống chính trị của họ lệ thuộc hoàn toàn vào nhà cầm quyền, họ không có năng lực để độc lập về mặt nhận thức hoặc năng lực độc lập về mặt chính trị cho nên tiếng nói của họ là tiếng nói phụ họa. Điều đó có nghĩa là trí thức cũng tham gia vào sự hướng dẫn sai lệch về mặt chính trị. Độ không phù hợp hay độ mất mát năng lực ở giới trí thức là rất lớn vì họ trượt theo những sự hướng dẫn không còn giá trị khách quan nữa. Sự mất mát năng lực hướng dẫn của giới trí thức tạo ra sự mất mát năng lực hướng dẫn chính trị của xã hội, làm cho xã hội mất cả năng lực hành động. Sự mất năng lực hành động của xã hội là hệ quả tất yếu của sự mất năng lực hướng dẫn chính trị, mà sự mất năng lực hướng dẫn chính trị là hệ quả của sự không tự do về mặt chính trị. Cái logic ấy chặt chẽ một cách tự nhiên, vì đó là logic của cuộc sống.

Rõ ràng là sự mất mát năng lực hướng dẫn chính trị của xã hội xuất phát từ chỗ cả xã hội được hướng dẫn bởi một khuynh hướng duy nhất, xã hội không có quyền lựa chọn. Làm như vậy chính là tiêu diệt sự đa dạng tinh thần của xã hội. Các năng lực khác nhau là nguồn dự trữ để chuẩn bị cho xã hội khả năng ứng phó với những đòi hỏi khác nhau của cuộc sống, tiêu diệt sự đa dạng tinh thần chính là tiêu diệt nguồn dự trữ các giải pháp xã hội. Nhà nước không những hướng dẫn sai năng lực, tạo ra sự lệch pha giữa năng lực và đòi hỏi mà còn tạo ra cái không thể đúng được của xã hội khi chuẩn bị năng lực vì nhà nước đã làm mất nguồn dự trữ. Do đó, có thể kết luận rằng, chỉ riêng nhà nước có quyền hướng dẫn chính trị trực tiếp là trạng thái chậm phát triển về chính trị của những nước chậm phát triển. Sai lầm của các xã hội ở đó là vô tình cố định hoá những người cầm quyền là người hướng dẫn mà quên mất rằng những người có năng lực hướng dẫn mới có thể trở thành người cầm quyền. Đã đến lúc các xã hội chậm phát triển phải thức tỉnh về một thực tế rằng: Ai có năng lực hướng dẫn thì người đó có thể trở thành người cầm quyền, đấy chính là sự chuyển dịch hợp lý, chuyển dịch thuận của quá trình chính trị. Chỉ có được sự chuyển dịch thuận như vậy mới có thể đảm bảo để xã hội không rơi vào tình trạng mất mát năng lực trên qui mô lớn.

  • Nguyễn Trần Bạt
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: