Trung Quốc được gì từ “sự kiện Biển Hoa Đông”?

Tác giả: Huỳnh Phan

Trong khi, những hành động của Trung Quốc tỏ ra “phản tác dụng trong quan hệ đối ngoại, khiến họ trở nên ngày càng bị cô lập”, như nhận xét của Giáo sư Thayer, Nhật Bản và các nước lại tận dụng tốt “cơ hội” này.

>> Biển Đông với cách tiếp cận mềm tại ADMM+
>> Vai diễn mới của Trung Quốc?

Chỉ gần một tuần nữa Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 17, và cùng với nó là các hội nghị không kém phần quan trọng như ASEAN+, Cấp cao Đông Á, sẽ khai mạc tại Hà Nội. Sự chú ý lớn nhất đang dồn vào Trung Quốc và Nhật Bản, hai quốc gia được coi là có ảnh hưởng lớn tới các hội nghị cấp cao ASEAN+3 và Cấp cao Đông Á. Nhất là sau những căng thẳng gia tăng đến chóng mặt giữa họ sau “sự kiện Biển Hoa Đông”.

Những tưởng mối bất hoà lớn giữa hai quốc gia Đông Bắc Á này đã dịu đi phần nào, khi bộ trưởng quốc phòng hai nước đã có cuộc trao đổi không chính thức tại quán cà phê khách sạn. Và sau đó là việc hai phái đoàn quân sự đã nán lại ngay tại phòng họp, khi hội nghị ADMM+8 kết thúc, để thảo luận về chương trình tiếp xúc sắp tới ở cấp thủ tướng và ngoại trưởng bên lề Cấp cao Đông Á.

Nào ngờ, những diễn biến phức tạp sau đó ít ngày ở hai quốc gia này, đặc biệt là ở Trung Quốc đã làm sống lại những quan ngại sâu sắc trước đó.

Biểu tình tự phát, và những dấu chấm hỏi

Theo hãng tin Kyodo (Nhật Bản), cuộc biểu tình kéo dài ba ngày ở Trung Quốc, bắt đầu từ ngày thứ bảy tuần trước (16/10) tại ba thành phố thuộc tỉnh Tứ Xuyên, với những tiếng hô khẩu hiệu ầm vang đòi chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư (hiện do Nhật Bản quản lý với tên gọi là Senkaku). Còn báo chí Trung Quốc đã thống kê rằng, chỉ trong hai ngày 16-17/10, đã có hơn 10 ngàn người, chủ yếu là thanh niên, tham gia biểu tình tại 24 thành phố. Thậm chí đến ngày thứ ba (18/10), cộng đồng mạng tại Vũ Hán đã vào cuộc, khi kêu gọi mọi người tại đây tham gia biểu tình, như một hành động trả đũa đối với cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ở Tokyo vào sáng 16/10.

Ảnh Reuters.

(more…)

Số phận 9 ngư dân Lý Sơn vẫn mịt mù

Đến 0g ngày 16-10, số phận chín ngư dân Lý Sơn trên tàu cá QNg-66478 TS của thuyền trưởng Mai Phụng Lưu được Trung Quốc thả về vẫn chìm trong vô vọng.

Mặc dù mưa to, thân nhân của chín ngư dân vẫn đứng đợi ở cầu cảng Lý Sơn – Ảnh: Tấn Vũ

(more…)

Tiêu chuẩn kép của Trung Quốc

Đốt cờ quân phiệt Nhật ở Hong Kong

Báo Hong Kong vừa có bài bình luận rằng Trung Quốc nói một đằng làm một nẻo trong các vụ căng thẳng mới đây ở trên biển.

Tờ South China Morning Post (SCMP – Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng) trong chuyên mục hàng tuần của nhà báo Greg Torode đặt giả thuyết nếu thay vì một ông thuyền trưởng của chiếc tàu 5179 hiện bị Nhật Bản giữ là hàng trăm ngư dân, người thì bị lật đổ thuyền, người thì bị thu hết hải sản đánh bắt được.

“Hoặc giả như Nhật Bản đòi tiền chuộc hàng nghìn đôla một đầu người, và vì chính phủ nhất quyết không chi tiền, gia đình các nạn nhân phải tự bỏ tiền ra (để chồng, cha, con họ được tự do)”.

Nhà báo của SCMP đưa kịch bản này cho một người sinh viên Hoa lục thì phản ứng nhận được là “kinh ngạc”. (more…)

Ai muốn gì trên Biển Đông?

Tác giả: Termsak Chalermpalanupap

Trong những tuần gần đây, rất nhiều bài báo và bình luận về biển Đông đã được xuất bản, và bài viết của ông Termsak Chalermpalanupap, giám đốc Ban giám đốc Chính trị và An ninh của Ban thư ký ASEAN sau đây sẽ nhằm mục đích giúp giải thích sự phức tạp của vấn đề này.

Các vấn đề Biển Đông được chia làm 5 loại, liên quan đến từng quốc gia hoặc từng bên riêng biệt. Việc này có thể đơn giản hơn, song chúng ta nên làm rõ chúng ta đang nói đến vấn đề gì, từ đó đưa ra giải pháp thích hợp với các bên liên quan chính đáng.

Quần đảo Hoàng Sa: Đây là vấn đề song phương, giữa Việt Nam và Trung Quốc (trong đó có Đài Loan). Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát Hoàng Sa sau cuộc chiến tranh trên biển kết thúc tháng 1/1974. Khi đó, miền Nam Việt Nam đã đòi lại, song không nhận được sự can thiệp của Mỹ để đẩy lùi người Trung Quốc khỏi mảnh đất này. Mỹ khi đó đang tìm cách rút chân khỏi chiến tranh Việt Nam và không muốn bất cứ xung đột nào với Trung Quốc.

Sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975 và thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã phản đối sự chiếm đóng của Trung Quốc ở Hoàng Sa. Nhưng Bắc Kinh khăng khăng rằng quyền sở hữu của họ đối với quần đảo này đã được thiết lập từ chiến thắng năm 1974.

Các nước láng giềng mới đây đã hoàn tất việc cắm mốc biên giới trên đất liền và sẽ sớm thực hiện việc phân giới trên biển. Từ nay tới lúc đó, họ đã có một số hoạt động hợp tác trên biển tại Vịnh Bắc Bộ. Họ cũng có một diễn đàn đối thoại quốc phòng chiến lược thường kỳ, cuộc họp sắp tới sẽ diễn ra tại Việt Nam cuối năm nay.

Phải thừa nhận là sẽ rất tốt nếu Việt Nam và Trung Quốc có thể tận dụng diễn đàn đa phương này để giải quyết các tranh cãi liên quan đến Hoàng Sa. Như vậy, vấn đề Hoàng Sa không liên quan đến các nước khác trừ phi Trung Quốc hoặc Việt Nam đòi chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý (320km) và mở rộng thềm lục địa xung quanh quần đảo này.

Quần đảo Trường Sa: Vấn đề này xuất hiện từ khi các nước trong khu vực, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Trung Quốc (có cả Đài Loan) đều đòi chủ quyền đối với các hòn đảo lớn, đảo nhỏ, bãi đá ngầm, đảo san hô vòng, đảo thấp nhỏ và các vùng nước gần kề. Quần đảo Trường Sa được biết đến là một vựa dầu lớn nhưng chưa được chứng minh. Tất cả các bên liên quan, trừ Brunei, đều củng cố đòi hỏi chủ quyền của mình bằng việc chiếm đóng quân sự một phần quần đảo này. (more…)

Chiến lược “từ trên xuống” của Trung Quốc có thể thay đổi?

Tác giả: MICHAEL WINES – New York Times

Hai câu hỏi đặt ra là, việc nhà nước kiểm soát các lĩnh vực rộng lớn của nền kinh tế sẽ sản sinh ra tỉ lệ tăng trưởng bao nhiêu? Và nếu chiến lược không còn hoạt động, Trung Quốc có thể thay đổi?

>> Bắc Kinh đã “nhận thức theo kịp thực tế”

Có hai nhóm quan điểm nhìn nhận tương lai của Trung Quốc khác hẳn nhau. Nhóm ít thấy những dấu hiệu của việc mở rộng lĩnh vực nhà nước nói chung tin rằng, Trung Quốc có một hoặc nhiều hơn một thập niên tăng trưởng mạnh trước khi nền kinh tế bước vào giai đoạn “chín”. Quan điểm này nhìn nhận sự can thiệp của nhà nước là không quá nhiều cũng không quá ít, chỉ vừa đủ thúc đẩy nền kinh tế đang phát triển hướng tới thịnh vượng.

Nhóm hoài nghi có cách nhìn u ám hơn: họ tin rằng sự can thiệp của chính phủ trong một phần không nhỏ bị bóp méo và lãng phí, có thể dẫn tới hậu quả là chấm dứt tốc độ tăng trưởng cao trước năm 2020. Sự bi quan này, theo họ, vì Trung Quốc giống như Nhật Bản cách đây một thế hệ, quá tự tin vào chiến lược kinh tế từ trên xuống mà bác bỏ học thuyết phương Tây thông thường.

Những người theo nhóm hoài nghi cũng chỉ ra những gì mà họ đề cập là sự gia tăng ảnh hưởng chính trị và tài chính với các tập đoàn nhà nước. Tại trung Quốc – 129 tập đoàn lớn chịu trách nhiệm trực tiếp với chính quyền trung ương, hàng nghìn công ty nhỏ hơn do tỉnh, thành phố điều hành. (more…)

Hải quân Trung Quốc còn khướt mới bằng Hoa Kỳ

Tác giả: Robert D. Kaplan

Có một nghịch lý nằm ở chính những nỗ lực của Trung Quốc nhằm phô trương sức mạnh tại “Địa Trung Hải của châu Á” và xa hơn nữa. Đó là việc Trung Quốc một mặt có ý ngăn chặn không cho tàu Mỹ tiếp cận vùng gần duyên hải, trong khi thực lực của họ còn xa mới đủ khả năng bảo vệ mạng lưởi thông tin trên biển. Bởi vậy bất kỳ cuộc tấn công nào của Trung Quốc vào tàu chiến Mỹ cũng đều có khả năng thất bại nếu hải quân Mỹ phong toả nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc bằng việc chặn đứng tàu thuyền nước này ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

LTS: Học giả Mỹ tiếp tục xới xáo, bàn luận về việc Washington liên tiếp chứng tỏ cho Bắc Kinh thấy Trung Quốc chưa đủ mạnh để có thể soán ngôi bá chủ châu Á. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược dịch tiếp bài viết của Robert D. Kaplan, mời độc giả cùng suy ngẫm.

>> Học giả Mỹ kháo chuyện “ngáo ộp” hải quân Trung Quốc
>> Học giả Mỹ bàn chuyện Trung Quốc ngấm ngầm mở rộng lãnh địa
>> Học giả Mỹ bàn về sức mạnh địa lý của Trung Quốc

Tại sao Trung Quốc cố gắng ngăn chặn sự tiếp cận nhưng lại chưa từng có ý định thực thi nó? Theo cố vấn quốc phòng Jacqueline Newmyer thì, mục đích của Bắc Kinh là tạo ra “sự sắp đặt sức mạnh” để “không phải thực sự sử dụng vũ lực nhằm bảo vệ các lợi ích”. Phô diễn hệ thống vũ khí mới, xây dựng cơ sở cảng biển, các điểm nghe ngóng tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, hỗ trợ quân sự cho các quốc gia duyên hải nằm giữa lãnh thổ Trung Quốc và Ấn Độ Dương… tất cả đều không có gì là bí mật, tất cả đều là nhằm phô diễn sức mạnh. Thay vì lập tức tiến hành cuộc chiến với Mỹ, Trung Quốc tìm cách gây ảnh hưởng với lối hành xử của Mỹ để tránh đối đầu.

Tuy nhiên, dường như có điều gì đó nổi lên trong các hoạt động của hải quân Trung Quốc. Nước này đang xây dựng một căn cứ hải quân chính tại đảo Hải Nam, nằm ngay trung tâm của Biển Đông, với những cơ sở ngầm có thể chứa 20 tàu ngầm hạt nhân hoặc bằng điện – diesel. Đây là kiểu vận dụng Học thuyết Monroe, xác định chủ quyền với vùng biển quốc tế lân cận. Trung Quốc có thể không có ý định chiến tranh với Mỹ hiện tại hoặc trong tương lai, nhưng động cơ có thể thay đổi. Tốt hơn là cần theo dõi các khả năng của nước này.

Mỹ bạo chi hơn cho khu châu Á. Ảnh minh họa: Đất Việt.

(more…)

Học giả Mỹ bàn chuyện Trung Quốc ngấm ngầm mở rộng lãnh địa

Bắc Kinh đã hướng tới các nước Trung Á để mở rộng phạm vi ảnh hưởng. Trung Quốc đã tiến vào vùng Á-Âu nhưng chưa đủ xa để đáp ứng nhu cầu tài nguyên tự nhiên. Ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Trung Á diễn ra dưới dạng hai hệ thống ống dẫn chính sắp hoàn tất tới Tân Cương: một mang dầu từ biển Caspian đi qua Kazakhstan, một mang khí tự nhiên từ Turkmenistan đi qua Uzbekistan và Kazakhstan.

LTS: Trong lịch sử, giới học giả luôn coi Trung Quốc ham chiến trận. Ngày nay các nhà phân tích vẫn cho rằng, trong cơn khát tài nguyên để thỏa mãn tham vọng bá chủ thế giới, Trung Quốc vẫn đang ngấm ngầm mở rộng lãnh địa. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược dịch tiếp bài viết của Robert D. Kaplan để độc giả cùng suy ngẫm.

>> Học giả Mỹ bàn về sức mạnh của Trung Quốc

Cơn khát tài nguyên tự nhiên của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với việc Bắc Kinh sẵn sàng chấp nhận những rủi ro để đảm bảo tài nguyên này. Đó là những mỏ đồng ở nam Kabul tại đất nước bị chiến tranh tàn phá Afghanistan, rồi cả những mỏ sắt, vàng, uranium, và đá quý trong khu vực. Bắc Kinh hy vọng sẽ xây dựng đường sá, ống dẫn năng lượng qua Afghanistan và Pakistan, kết nối vùng ảnh hưởng của họ ở Trung Á với các cảng tại Ấn Độ Dương. Địa bàn chiến lược của Trung Quốc sẽ được tăng cường nếu Mỹ ổn định tình hình Afghanistan.

Với dân số hơn một tỉ người, Ấn Độ trở thành một vùng địa lý “chắn ngang” trong khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á. Ở mức độ nào đó, Trung Quốc và Ấn Độ do vị trí địa lý cố hữu mà trở thành đối thủ của nhau: hai quốc gia láng giềng có dân số khổng lồ, nền văn hoá phong phú và có lịch sử tranh chấp lãnh thổ. Và, Trung Quốc với ẤN Độ “sẽ có cuộc chơi lớn” không chỉ trong khu vực mà còn ở Bangladesh cũng như Sri Lanka.

Tiếp đến là Mông Cổ. Biên giới phía bắc của Trung Quốc giáp Mông Cổ, một lãnh thổ khổng lồ lại thưa thớt dân cư, có những đồng cỏ mênh mông, giàu dầu mỏ, than đá, uranium… Các công ty khai khoáng của Trung Quốc đang tìm kiếm mở rộng thị phần sở hữu tài sản nằm trong lòng đất của Mông Cổ. Qúa trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến Trung Quốc trở thành nước tiêu dùng hàng đầu thế giới về nhôm, đồng, chì, nickel, kẽm, thiếc và quặng sắt; Thị phần tiêu dùng kim loại của Trung Quốc trên thế giới tăng từ 10% lên 25% kể từ cuối những năm 90

Biên giới phía bắc của Trung Quốc giáp Mông Cổ, một lãnh thổ khổng lồ lại thưa thớt dân cư, có những đồng cỏ mênh mông, giàu dầu mỏ, than đá, uranium… (Ảnh minh họa).

(more…)

Thử bàn về sức mạnh địa lý của người Trung Quốc

Sau khi giải thích vì sao Á – Âu trở thành điểm tựa địa chiến lược của quyền lực thế giới, nhà địa lý học người Anh Sir Halford Mackinder cho rằng, người Trung Quốc, nếu mở rộng sức mạnh của họ ra khỏi khu vực biên giới “có thể cấu thành mối đe doạ từ châu Á với tự do của thế giới

Bắc Kinh có thể với bao xa trên đất liền và trên biển? Nhà địa lý học người Anh Sir Halford Mackinder kết thúc bài báo nổi tiếng của mình năm 1904 với tiêu đề “Lịch sử của trục địa lý” đã bóng gió nói tới mối lo về Trung Quốc.

Sau khi giải thích vì sao Á – Âu trở thành điểm tựa địa chiến lược của quyền lực thế giới, ông cho rằng, người Trung Quốc, nếu mở rộng sức mạnh của họ ra khỏi khu vực biên giới “có thể cấu thành mối đe doạ từ châu Á với tự do của thế giới chỉ vì họ có thêm mặt tiền đại dương và các nguồn tài nguyên đại lục – một lợi thế mà nước Nga không có”.

Mackinder chỉ ra rằng, nước Nga cho dù là một cường quốc trên đất liền thì lại có một mặt tiền đại dương bị băng giá chắn ngang, trong khi đó Trung Quốc lại sở hữu 9.000 dặm duyên hải với rất nhiều hải cảng tự nhiên thuận lợi, là một cường quốc trên cả đất liền cũng như trên biển. (Mackinder thậm chí còn e ngại rằng, một ngày nào đó, Trung Quốc có thể chế ngự cả Nga). Tầm với thực sự của Trung Quốc mở rộng từ Trung Á – với sự giàu có khoáng sản và hydrocarbon tới những tuyến đường biển nhộn nhịp ở Thái Bình Dương.

Sau đó, trong tác phẩm Lý tưởng Dân chủ và Thực tế, Mackinder dự báo cùng với Mỹ và Anh, Trung Quốc cuối cùng sẽ dẫn dắt thế giới bằng việc “xây dựng một nền văn minh mới cho 1/4 nhân loại, theo cách không phải phương Đông cũng chẳng hẳn như phương Tây”.

Lợi thế địa lý của Trung Quốc hiển nhiên tới nỗi thường bị bỏ sót trong các cuộc thảo luận về phát triển kinh tế cũng như sự quả quyết về lợi ích quốc gia. Có một thực tế là: Trung Quốc đứng ở trung tâm vị trí địa chính trị cho dù con đường tiến tới quyền lực toàn cầu của nước này không hẳn là đường thẳng. (Tỉ lệ tăng trưởng GDP thường niên của Trung Quốc đạt hơn 10% trong 30 năm qua, nhưng chắc chắn không thể kéo dài thêm 30 năm nữa).

(more…)

Nhiều tàu chiến, tàu ngầm Mỹ-Hàn tham gia tập trận chung ngày 5/9

Bộ chỉ huy Lực lượng hỗn hợp Mỹ – Hàn Quốc hôm qua ra thông báo cho biết trong cuộc tập trận tại khu vực Hoàng Hải bắt đầu vào ngày mai, ngày 5/9, sẽ có ít nhất 10 tàu chiến và tàu ngầm của hai nước tham gia.

Khu trục hạm trang bị hệ thống Aegis (tên lửa có điều khiển) thứ hai của Hàn Quốc, mang tên Yulgok Yi Yi

Theo thông báo, Mỹ sẽ huy động hai khu trục hạm trang bị tên lửa có điều khiển, một tàu khảo sát đại dương, một tàu ngầm loại tấn công nhanh, ba máy bay trinh thám P-3C Orion.
(more…)

Kinh nghiệm giảm nhập siêu từ… “hàng xóm”

Tác giả: Nguyễn Đình Bích – TBKTSG

Sự phát triển xuất khẩu bền vững sang thị trường Trung Quốc của Malaysia, Thái Lan, Philippines là do họ đã chiếm được những vị trí nhất định trong các chuỗi giá trị gia tăng của Trung Quốc và góp phần đáng kể trong các sản phẩm “made in China”

Thanh toán bằng đồng nhân dân tệ và và nguy cơ lệ thuộc

Từ nhiều năm nay Việt Nam đã liên tục nhập siêu, ngoại trừ biệt lệ vào năm 1992. Yếu tố chính dẫn đến quy mô nhập siêu lớn như hiện nay là thị trường Trung Quốc. Trong khi đó, nước này đã giảm nhập siêu theo hướng có lợi cho họ, và các quốc gia ASEAN cũng đang làm mọi cách để giảm nhập siêu từ chính Trung Quốc. Đây là kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo để giải bài toán nhập siêu.

Trung Quốc quyết định “rổ nhập siêu” của Việt Nam

Các số liệu thống kê cho thấy, trong thập kỷ 1990, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đã tăng vọt 69,9%/năm, từ gần như con số 0 tăng lên 1,534 tỉ đô la Mỹ và lọt vào tốp 4 thị trường xuất khẩu lớn nhất (xếp sau ASEAN, Nhật và EU), còn nhập khẩu tuy cũng tăng cao đáng kể (77,2%/năm) nhưng cũng chỉ mới đạt 1,401 tỉ đô la Mỹ. Do đó, bình quân mỗi năm Việt Nam vẫn xuất siêu sang Trung Quốc 51 triệu đô la Mỹ.

Tuy nhiên, chín năm trở lại đây tình hình đã xoay theo chiều hướng ngược lại. Bởi lẽ, trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn tăng rất mạnh 31,5%/năm, đạt 16,441 tỉ đô la Mỹ, thì xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đã giảm chỉ còn 8,5%/năm, đạt 4,909 tỉ đô la Mỹ. Đáng chú ý, Trung Quốc là một trong số rất ít thị trường xuất, nhập khẩu của Việt Nam phát triển theo hướng này bởi xuất khẩu ra thị trường thế giới của Việt Nam vẫn tăng 16,5%/năm, còn nhập khẩu cũng chỉ tăng 18,1%/năm.

Từ chỗ là thị trường xuất siêu, Trung Quốc không những đã trở thành thị trường giữ vai trò quan trọng, mà còn quyết định cả “rổ hàng hóa nhập siêu” của Việt Nam trong những năm gần đây.

Cụ thể, nhập siêu từ thị trường Trung Quốc năm 2005 chỉ mới là 2,672 tỉ đô la Mỹ, chiếm 61,9% tổng kim ngạch nhập siêu của nước ta, thì năm 2009 đã tăng lên tương ứng là 11,532 tỉ đô la Mỹ và 89,7%. Nếu hạn chế được nhập siêu từ thị trường trung Quốc, Việt Nam sẽ cơ bản giải được bài toán nhập siêu. (more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: