Chuộng ngoại: Căn bệnh nan y

Ngày 26/11 vừa qua, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã phải ra công văn để “hãm phanh” việc cấp dưới ông, các “công bộc của dân” liên tục có các tờ trình, đề xuất đi công tác nước ngoài.

Thực chất việc đi công tác nước ngoài của lãnh đạo sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã của Thủ đô đã xây dựng kế hoạch đến hết năm 2010. Chủ tịch UBND thành phố chỉ đạo: “Chỉ xem xét, giải quyết các trường hợp đã có trong kế hoạch, có bố trí ngân sách từ đầu năm hoặc theo nhiệm vụ cấp bách hay yêu cầu của trung ương, thành phố”.

Như vậy, những chuyến xuất ngoại bị “tuýt còi” kia liệu có nằm trong kế hoạch, có để giải quyết “nhiệm vụ cấp bách” không thì ai cũng hiểu. Nhưng việc họ xin xuất ngoại để làm gì, nó cần thiết như thế nào, chỉ có từng người trong cuộc mới biết hết.

Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo. (Nguồn: Internet)

(more…)

VietNam Idol bị tố dàn dựng kịch bản

Sau vụ lùm xùm từ clip nói tục của thí sinh Đức Anh và hành động chơi xấu của Đăng Khoa, hậu trường VietNam Idol năm nay tiếp tục nóng bởi những chuyện đồn đoán nhạy cảm khác.
Vụ lùm xùm gây nhiều tranh cãi về đoạn băng chửi bậy và thủ phạm chơi xấu của các thí sinh Idol đã mang đến cho cư dân mạng một cái nhìn khác về chân dung của những người đang nuôi mộng trở thành thần tượng âm nhạc của giới trẻ. Qua nhiều bình luận trên các diễn đàn, chân dung những người… sắp nổi tiếng trở nên méo mó so với hình ảnh lung linh, hoàn hảo trên sân khấu. Thêm vào đó, chuyện hậu trường của VietNam idol năm nay tiếp tục nóng bởi những lời đồn đoán về kết quả được cho là ban tổ chức đã dàn dựng sẵn.


Đức Anh đang cố gồng gánh bài hát chờ vé vớt trong đêm chung kết gala 5.

(more…)

Địa vị “cao” nhưng “lùn” nhân cách

Chừng nào những tin tức “tự sướng”, những dòng nhạc “rác rưởi” còn có đất sống thì đừng hòng có được một thế hệ biết và hướng đến sự nhân văn, nhân bản

Trần Minh Quân

Trong thời gian gần đây, tin tức về những video clip “tự sướng” xuất hiện ngày càng nhiều trên các báo mạng lớn của Việt Nam như Vietnamnet, VnExpress, …

Liên tục xuất hiện đều đều trên các trang báo mạng với những cái tít gây sự tò mò, tìm hiểu và đôi khi trái ngược lại với ý tứ trong từng bài viết.

Cách đặt tít giật gân này thực ra là cách câu khách một cách “vô văn hóa”, vô tình đã cổ vũ cho những hành đồng “tự sướng” có thêm đất sống, vô tình đã “tiếp thị” cho một xu hướng đáng ra cần lên án.

Ngoài ra, trong mỗi bài viết, tác giả đã cố tình để lại một vài dấu tích về những clip này như tên người gởi, tên clip, … Đây chính là hành động vẽ đường cho hươu chạy. Như vậy vô tình (hay cố tình) tác giả đã chỉ đường cho những người tò mò tìm kiếm và xem những clip này nhiều hơn mà thôi.

Câu khách bằng những tin tức kiểu “tự sướng” thực chất là tác giả đã “tự sướng” theo cùng nhân vật, đồng thời tờ báo của mình thêm phần “lá cải” cao hơn theo thời gian.

Hiện tượng này rất giống với hiện tượng những bài hát “rác rưởi” đang tràn ngập trên thị trường, nó chính là thủ phạm của một nền giáo dục phản giáo dục, văn hóa phản văn hóa.

Chính những người tự cho mình có quyền đưa tin, thậm chí có quyền phán xét những hiện tượng nhức nhối của xã hội (các nhà báo) và cũng chính những người tự cho mình là người đang tô vẽ cho bức tranh âm nhạc, văn hóa của đất nước (nhạc sĩ) là những người góp phần đưa đường dẫn lối một xu hướng lệch lạc về cái đẹp, cái văn hóa của một bộ phận trong xã hội. Họ chính là tác giả của bức tranh nhiều gam màu tối của xã hội, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam hiện nay.

Lỗi này không thể đổ lỗi cho các nhân vật trẻ trong các clip, trong bức tranh âm nhạc. Lỗi chính là những người đang đứng đầu các trang báo, những người quản lý văn hóa. Bằng cách nào mà các “tác phẩm” này cứ đều đều xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có vài cách lý giải.

Một là: họ biết nhưng cứ làm ngơ, để cho các “tác phẩm” này ra đời nhằm câu khách, tăng lượng truy cập, tăng người nghe để kiếm tiền.

Hai là: họ quá ngu muội đến nỗi không nhận biết được cái đẹp, cái hay.

Ba là: trong họ cùng một lúc tồn tại hai lý do trên.

Bốn là: trong giáo dục hiện nay thiếu hẳn những bài học về cảm thụ cái hay, cái đẹp, hướng con người vào quỹ đạo chân – thiện – mỹ.

Các trang báo cứ câu khách nhằm tăng lượng truy cập, để được quảng cáo kiếm tiền. Các nhạc sĩ thì cứ thu tiền tác giả. Các ca sĩ thì cứ nhún nhún, nhảy nhảy hát những lời lẽ thô tục và lấy tiền.

Họ lấy tiền cho đầy túi, những đồng tiền đó chính xác là tiền đã bán rẻ giáo dục, bán rẻ văn hóa của một thế hệ. Những đồng tiền này còn đáng lên án hơn cả những đồng tiền thu được từ ma túy.

Chừng nào những tin tức “tự sướng”, những dòng nhạc “rác rưởi” còn có đất sống thì đừng hòng có được một thế hệ biết và hướng đến sự nhân văn, nhân bản.

Đây chính là hiện tượng những người ở lớp trên cao của xã hội nhưng lại lùn về nhân cách.

Hương Lan – Tuấn Vũ và Đặng Thái Sơn

Sự cảm thụ, trình độ cảm thụ âm nhạc của mỗi người khác nhau. Mỗi dòng nhạc đều có một đối tượng khán giả riêng. Quan trọng nhất là xây dựng một nền âm nhạc có chất lượng, có sức sống với thời gian, thể hiện được cái hay, cái đẹp.

Trần Minh Quân

Dòng nhạc bác học rất kén khán giả?

Nền văn hóa của một quốc gia nói chung bao gồm rất nhiều yếu tố. Hiện nay định nghĩa về văn hóa vẫn chưa thống nhất, hiểu một cách ngắn gọn thì Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Theo nghĩa hẹp thì Văn Hóa dùng để chỉ văn chương và nghệ thuật, trong đó có đủ các bộ môn ca, nhạc, vũ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, kịch trường, điện ảnh. Nghĩa  này được dùng khi nói tới một công trình văn hóa, tác phẩm văn hóa, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đêm văn hóa, trình diễn văn hóa, triển lãm văn hóa.

Vậy, để đánh giá trình độ văn hóa thấp hay cao, nếu xét riêng một khía cạnh âm nhạc thì đúng nhưng chưa đủ.

Trong âm nhạc, có thể phân chia ra những dòng nhạc khác nhau dựa trên những yếu tố khác nhau. Nếu dựa trên chiều dài lịch sử hình thành, có thể phân biệt dòng nhạc dân tộc (dân ca, dân gian) và dòng nhạc hiện đại. Nếu xét trên khía cạnh cảm thụ, đối tượng thưởng thức, có thể phân chia thành dòng nhạc quần chúng (bình dân) và dòng nhạc bác học.

Trở lại bài viết của Khi Đặng Thái Sơn không thể “địch” lại Hương Lan, Tuấn Vũ của tác giả Đặng Hữu Phúc. Tác giả so sánh sự hưởng ứng của khán giả đối với Đặng Thái Sơn và Hương Lan, Tuấn Vũ, và kết luận rằng: “sự kiện âm nhạc” nổi bật trong thời gian trước thềm Đại lễ lại là những đêm nhạc “Sến” của Hương Lan, Tuấn Vũ (!!!). Những chuyện này trước đây không thể xảy ra.

Sự so sánh này e rằng khập khiểng. Ta không thể so sánh Đặng Thái Sơn với Hương Lan, Tuấn Vũ, bởi lẽ theo định nghĩa ở trên thì Tuấn Vũ, Hương lan trình diễn loại âm nhạc bình dân, quần chúng, phù hợp với đại đa số người dân, ai cũng có thể nghe và hiểu được. Còn Đặng Thái Sơn đang trình diễn một loại âm nhạc bác học, mà đã là âm nhạc bác học thì không phải ai cũng thích xem, thích nghe và có thể cảm nhận hết cái hay, cái đẹp, cái bác học của nó.

Có một điều chắc chắn rằng Đặng Thái Sơn không bao giờ muốn mình là Hương Lan, Tuấn Vũ và ngược lại Hương Lan, Tuấn Vũ cũng sẽ không bao giờ trở thành Đặng Thái Sơn. Đặng Thái Sơn hay Hương Lan, Tuấn Vũ luôn có những khán của riêng mình. Đó là điều không cần bàn cãi.

Còn nhận định “chuyện này trước đây không thể xảy ra” cũng chưa chính xác. Sự ra đời dòng nhạc bình dân này cũng đã gắn liền và tiếp bước của dòng nhạc dân tộc, nó bình dân, mộc mạc, dễ đi vào lòng người và luôn có một lượng khán thính giả rất lớn thưởng thức và hâm mộ. Chỉ có điều, sự kiện Hương Lan, Tuấn Vũ được chào đón và hưởng ứng ngay tại Nhà Hát Lớn Hà Nội có đôi chút đáng bàn, bởi từ lâu, nơi đây thường gắn liền với những sự kiện âm nhạc lớn, mang tính bác học hơn là tính bình dân.

Nếu so sánh giữa những giá trị trong âm nhạc hiện đại nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và trình độ cảm thụ âm nhạc, nên chăng hãy so sánh dòng nhạc “sến” của Hương Lan, Tuấn Vũ (theo tác giả Đặng Hữu Phúc) và dòng nhạc lãng mạn, tiền chiến của những tác giả nổi tiếng một thời như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Đình Chương, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Nguyễn Văn Thương, Lê Thương, …

Nói một cách công bằng, thực trạng hiện tại vẫn luôn có một lượng lớn khán thính giả, nhất là khán giả trẻ, đang say mê một cách mù quáng, đang cổ vũ cuồng nhiệt cho một thứ nhạc thị trường “rác rưởi”, cho những nhạc sĩ trẻ với những bài hát không giống ai, hay nói đúng hơn là phản âm nhạc. Chính xu hướng ấy, những con người ấy từ nhạc sĩ sáng tác, đến ca sĩ thể hiện, người nghe loại nhạc này mới làm hoăn ố bộ mặt văn hóa âm nhạc Việt Nam. Đây mới là điều đáng suy nghĩ.

Trong bài viết Sao lại so Đặng Thái Sơn với Hương Lan, Tuấn Vũ? đăng trên Tuần Việt Nam ngày 05/09/2010, tác giả cho rằng “cảm nhận âm nhạc của người Việt Nam nói chung và cảm nhận âm nhạc của người Hà Nội nói riêng ngày càng đơn giản, dễ dãi. Nguyên nhân một phần do cơ chế thị trường. Những chủ thể đầu tư vào thị trường âm nhạc luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu, thị trường tự điều chỉnh có cầu thì cung sẽ đáp ứng tối đa và mặc dù kinh doanh mặt hàng đặc biệt là văn hóa nhưng cơ quan quản lý nhà nước không định hướng, kiểm soát mới dẫn tới thực trạng như hiện nay bởi đối tượng trẻ là đối tượng rất cần nhiều định hướng đúng đắn”. Đây chính là vấn đề. Thực trạng này ai cũng có thể nhìn thấy. Tuy nhiên, để nâng cao sự hiểu biết, bắt đi sự đơn giản, dễ dãi trong tư duy cảm thụ âm nhạc là một vấn đề lớn, cần có sự hợp sức của toàn xã hội, mà đâu tiên, hãy bắt nguồn từ những nhà quản lý. Sự quá dễ dãi trong cấp phép những tác phẩm âm nhạc phản âm nhạc trong thời gian qua đã tạo nên một bộ mặt nhếch nhác của nền âm nhạc Việt Nam hiện nay. Cần thiết phải rà soát lại những tác phẩm âm nhạc “rác rưởi” này nhằm làm sạch hơn môi trường âm nhạc, trả lại cho âm nhạc vẽ đẹp vốn có của nó.

Đó là vấn đề cấp bách, cần làm ngay. Để xử lý một cách căn bản, cần thiết nhất là việc hãy đào tạo ra một lớp nhạc sĩ phải hiểu biết cái đẹp, cái hay, có tâm, có năng lực, nhằm tạo ra những tác phẩm có chất lượng. Mặc khác, hãy định hướng nhu cầu thẫm mĩ trong khán giả, nhất là khán giả trẻ, đưa hẳn vào giảng dạy trong nhà trường.

Có một câu chuyện đơn giản mà đáng suy ngẫm về cảm nhận âm nhạc cần kể ra đây cho mọi người biết. Có một người nói rằng: Thời trẻ, ông hay dắt người yêu vào phòng trà nghe nhạc. Hơn ba năm sau, ông cũng dắt người ấy (nay là vợ) vào phòng trà nghe nhạc, cũng vẫn những bài hát ấy, nay nghe lại vẫn hay như ngày nào.

Sự cảm thụ, trình độ cảm thụ âm nhạc của mỗi người khác nhau. Mỗi dòng nhạc đều có một đối tượng khán giả riêng. Quan trọng nhất là xây dựng một nền âm nhạc có chất lượng, có sức sống với thời gian, thể hiện được cái hay, cái đẹp.

Nói rằng văn hóa đang xuống cấp, đó là thực trạng có thực. Tuy nhiên, nhìn vào sự kiện Hương Lan, Tuấn Vũ được chào đón tại Nhà Hát Lớn để đánh giá e rằng chưa chính xác, mà nên nhìn tổng quan về tình hình âm nhạc Việt Nam hiện nay thì sẽ công bằng hơn.

Bộ phim mới: Long thành cầm giả ca

Sự kiện bộ phim “Lý Công Uẩn – Đường Tới Thành Thăng Long” vẫn đang tranh cãi gây cấn, giờ đây đến bộ phim ” Long thành cầm giả ca”. Nhưng có một điểm khác, lần này do bác Đông A khởi xướng. Xin giới thiệu đến quý vị gần xa:

Long thành cầm giả ca

1. Long thành cầm giả ca là bộ phim lấy bối cảnh ngày xưa (thế kỷ 18) duy nhất trong số các bộ phim chào mừng Đại lễ Nghìn năm Thăng Long – Hà Nội. Tôi không gọi bộ phim này là phim lịch sử hay cổ trang. Bối cảnh của bộ phim là giai đoạn Lê-Tây Sơn-Nguyễn, đầy tao loạn của lịch sử. Đây là một giai đoạn tang thương, mà tương tự nó chỉ còn có ở thời hiện đại. Trước những biến động khôn lường của lịch sử thân phận con người trong những giai đoạn tao loạn như vậy thật mỏng manh, dễ bị thương tổn và đầy bất trắc. Đấy là những bối cảnh mà nghệ thuật có thể khai phá tới tận cùng sâu thẳm thân phận của con người. Đấy cũng là những bối cảnh mà nghệ thuật vì những lý do nào đó không thể khai phá được thân phận con người ở thời lịch sử hiện đại vừa qua có thể lấy chúng làm bối cảnh tương đồng để khai phá. Long thành cầm giả ca là thân phận của một ca nương trong thời tao loạn. Long thành cầm giả ca là cuộc đời của một thi bá Việt Nam – Nguyễn Du. Nhưng rất đáng tiếc, mặc dù thời lượng của bộ phim khá dài, khoảng hai tiếng đồng hồ, bộ phim quá hời hợt, chỉ lớt phớt minh họa được một chút giai đoạn đầy tao loạn đấy cùng với thân phận con người trong buổi tao loạn của lịch sử. Bộ phim thiếu chiều sâu và những khai phá về con người. Có thể thấy rằng bối cảnh của bộ phim là một giai đoạn dài của lịch sử, từ Lê-Trịnh, qua Tây Sơn, đến Nguyễn sơ, và do vậy bộ phim đã quá loãng không tập trung được vào một chủ đề nhất định để khai phá chiều sâu của nó. Long thành cầm giả ca chỉ như là một bộ phim minh họa.
(more…)

Hà Nội đáng yêu, đáng giận, đáng thương

Hà Nội có còn như xưa?

Tôi vừa trở về Hà Nội sau một đợt công tác tại TP.HCM. Như mọi cuộc đi và về khác, chuyến công tác này cũng để lại trong tôi nhiều cảm xúc cả vui và buồn.

Phần lớn là niềm vui, vì những tấm lòng bạn bè miền Nam cởi mở, chân thành, tự nhiên – lẽ ra phải nói là “tự nhiên như người Sài Gòn” mới đúng. Chẳng mấy khi ở Hà Nội mà tôi có thể nắm tay các bạn nhảy múa, có thể hô một tiếng “nhậu đi” rồi kéo nhau ra bờ kè, tức kênh Nhiêu Lộc, ăn uống và đàn hát trắng đêm.

Chẳng mấy khi ở Hà Nội tôi có thể điềm nhiên bước vào một nhà hàng hay quán nước, ngồi vắt chân và chờ cô hay cậu bồi bàn tiến lại, lễ độ: “Dạ, chị dùng gì?”. Tôi sẽ trả lời ngắn gọn và chờ được phục vụ rất nhanh chóng sau đó, gọn gàng, khẽ khàng, không xủng xoẻng như thể sắp làm vỡ ráo cả mớ chén bát, ly cốc. Tôi cũng sẽ không phải nhìn những bộ mặt lạnh băng, và nhất là không bị người phục vụ “khuyến mãi” cho một ngón tay cái ngập vào bát nếu như tôi có lỡ gọi món phở. (more…)

Cần lắm tinh thần dân tộc

Dân tộc Việt Nam ta đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã từng bị nghìn năm đô hộ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây. Người dân Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm tăm tối, bị áp bức đọa đày, bản sắc văn hóa đặc trưng tưởng như bị xóa sạch. Nhưng không! Người Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục, vẫn anh dũng đứng lên đánh tan xiềng xích, thoát ly khỏi những cuộc đồng hóa văn hóa, xây dựng một nền văn hóa riêng, rất Việt Nam. Đó chính là nhờ có một tinh thần dân tộc sâu sắc.

Điển hình cho sự cố gắng thoát ly khỏi những cuộc đồng hóa văn hóa, có thể kể đến việc sử dụng chữ viết của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Trong suốt thời gian từ năm 111 đến năm 939, người Việt Nam nói tiếng Việt, viết chữ Hán. Từ năm 939 đến năm 1651 nói tiếng Việt, viết chữ Hán, Nôm. Từ năm 1651 đến năm 1861 nói tiếng Việt, tiếng Pháp, viết chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt Latinh của giáo sĩ Thiên chúa giáo, chữ Pháp. Từ năm 1945 đến nay, nói tiếng Việt, viết chữ Quốc ngữ (Việt latinh).

Trong những mốc thời gian trên, nước Việt Nam ta đều chịu sự ảnh hưởng và áp đặt những ngôn ngữ ngoại lai là chữ Hán, chữ Pháp. Tuy vậy chữ Nôm là sản phẩm đặc thù của Việt Nam, là sự sáng tạo, thể hiện ước muốn tách rời khỏi những chính sách đồng hóa mà các nước đô hộ Việt Nam ta áp dụng. Chữ Nôm vẫn có sức sống mãnh kiệt, và kéo dài hàng thiên niên kỹ.

Dân tộc Việt nam luôn lấy đức hòa hiếu làm trọng, luôn “lấy chí nhân thay cường bạo”, do đó dù là một dân tộc nhỏ, lượng lượng yếu nhưng vẫn đánh thắng được quân thù mạnh hơn ta nhiều lần. Những chiến thắng quân Mông, Nguyên, Quân Thanh, Quân Pháp, Mỹ với những chiến công lẫy lừng như chiến thắng Bạch Đằng, chiến thắng Đống Đa, Ngọc Hồi, Điện Biên Phủ, ….

Những thành công rực rỡ này là sự cố gắng kiên cường của từng cá nhân, từng thôn xóm và của cả dân tộc. Đó còn là sự trỗi dậy, là sự cộng hưởng của tinh thần dân tộc.

Trên thế giới cũng có một vài ví dụ về tinh thần dân tộc đáng để chúng ta suy nghĩ và học hỏi. Đó là sự hình thành nhà nước Do Thái hiện đại. Những người con Do Thái trên toàn thế giới đã vì tinh thần dân tộc cao cả đã chấp nhận bỏ đi cuộc sống sung sướng, yên bình để quay về xây dựng đất nước trên mãnh đất cằn cổi, và một đất nước Israel hùng mạnh như ngày nay được mọi quốc gia kính nễ, công nhận. Một ví dụ khác là nước Nhật. Sau khi thất bại trong thế chiến thứ II, Nhật Bản là một đất nước điêu tàn với bao nhiêu tan thương, tàn tích chiến tranh, tất cả người dân Nhật Bản bỏ lại sau lưng những đau thương, cùng nhau tiến lên xây dựng đất nước hiện đại, giàu có với vị trí hàng đầu về kinh tế trên thế giới nhiều năm liền.

Dẫn chứng dài dòng như vậy để thấy rằng, chỉ có tinh thần dân tộc, lòng tự tôn dân tộc mới là thứ vũ khí bách chiến bách thắng, không có một thế lực nào có thể đánh bại được.

Tinh thần dân tộc cần có sự trau dồi, cần có sự lan tỏa mới tạo được sức mạnh vô địch.

Cái gốc của tinh thần dân tộc là văn hóa, là bản sắc thiêng liêng của dân tộc ấy. Sự đánh mất văn hóa, văn hóa bị lai căng, bị xem thường là lúc tinh thần dân tộc bị mai một.

Sự kiện bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long là một dẫn chứng. Nó thật tai hại nếu được công chiếu rộng rãi. Rất may, nó chưa được phép công chiếu. Đó là công sức của những người có tâm huyết, có tâm với văn hóa, có tâm với dân tộc đã phát hiện và chỉ ra những cái sai, cái thiếu văn hóa, sự nhầm lẫn tai hại về lịch sử, về văn hóa.

Nếu so sánh suốt chiều dài lịch sử thì sự kiện này là rất nhỏ, tuy vậy nó có thể nhăn nhúm tạo nên sự xem thường văn hóa, xem thường lịch sử, rồi dẫn tới những sự việc lớn hơn, hệ trọng hơn.

Tuy nhiên, những phản biện, những chê trách về bộ phim cũng đã nói nhiều, với tinh thần hòa hiếu, đó cũng là bài học của những nhà làm văn hóa. Việc cần thiết nhất lúc này là hòa hợp lại, cùng nhau nghĩ cách xây dựng một nên văn hóa nhân bản hơn, đậm đà bản sắc hơn.

Dân tộc Việt Nam không bao giờ thiếu những con người chân chính, biết tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa, biết nghiên cứu, tu bổ cho kho tàn lịch sử dân tộc. Chỉ có điều, họ chưa có điều kiện, hoặc không muốn nói lên chính kiến của mình.

Dân tộc Việt Nam cũng có rất nhiều người hiểu biết, là những người tâm huyết và đang nắm quyền điều hành nền văn hóa, lịch sử. Nhưng vì một sự mù mờ, lập lững nào đó mà vô tình hay cố ý để lọt những sản phẩm văn hóa “con lai” như vậy.

Nguyên nhân sâu xa của vấn đề là còn quá thiếu những hiểu biết về văn hóa và lịch sử của dân tộc, dẫn đến sự dễ dãi, hời hợt của đa số người dân khi gặp một sự liện văn hóa, lịch sử. Ngoài ra còn có sự thiếu trách nhiệm của những nhà nghiên cứu, những nhà quản lý văn hóa.

Làm thế nào để khơi gợi lại tinh thần dân tộc và tạo được sự cộng hưởng nhất định trong đại đa số con người Việt Nam là một vấn đề khó, vấn đề nan giải.

Đó là vấn đề lớn, cần có sự chung tay giúp sức của cả cộng đồng, cả dân tộc. Nhưng trước hết, trách nhiệm thuộc về những nhà nghiên cứu, những nhà quản lý.

Văn hóa bắt nguồn từ giáo dục, dó đó có thể nói rằng sự tồn vong của văn hóa đều bắt nguồn từ giáo dục. Một nền giáo dục phải giáo dục con người hiểu biết về văn hóa và biết yêu thương, nâng niu văn hóa. Từ đó mới mong sự lớn mạnh của tinh thần dân tộc.

Hãy bắt tay ngay bây giờ nếu không sẽ quá trễ.

  • Da Vàng

* Trong bài viết có sử dụng một số tư liệu của tác giả khác.

Nhận diện “giặc văn hóa”

Một nếp văn hóa đọc và văn hóa nghe nhìn đang xuống cấp, đang bị lai căng, đang bị nhồi nhét một cách thô bạo. Những tác phẩm văn học nhạt nhẻo, những tác phẩm âm nhạc rẽ tiền,những trò chơi bạo lực đang tràn ngập trên đường phố và các phương tiện thông tin đại chúng … Tất cả những thứ đó đang xâm chiếm và áp đặt nếp suy nghĩ và hành động của đa số trẻ em Việt Nam hiện nay, từ đó sinh ra một thế hệ trẻ không hiểu biết về văn hóa, không biết cảm thụ những cái hay, cái đẹp, đã vô tình tiếp tay cho một xu hướng “giặc” mới: đó là Giặc “văn hóa”.

Trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ phân tích và chỉ ra những đặc điểm rất dễ nhận ra trên hầu hết Việt Nam từ những làng xóm yên bình đến những thành thị giàu có, cốt là để nhận diện các loại giặc văn hóa mới đang âm thầm giết chết những thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước.

1. Những điều đang xảy ra bên ngoài xã hôi:

Trên hầu hết đất nước Việt Nam tươi đẹp này, đi đến đâu cũng thấy một bộ phận không nhỏ học sinh từ tiểu học đến trung học bước ra khỏi nhà trường là trở thành những con người khác.

- Hút thuốc lá:

Theo một nghiên cứu về hút thuốc lứa tuổi học sinh tại TP.HCM thì có tới 28% học sinh hút thuốc lá, riêng ở các trường dân lập, tỷ lệ học sinh hút thuốc là 34%. Có đến 44% nam sinh và 12% nữ sinh bậc THPT ở TP HCM có thói quen tai hại này. Đây là kết quả một nghiên cứu do Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Thành phố thực hiện tại 27 trường THPT(bao gồm cả trường công lập, dân lập và bán công.

Quan sát xung quanh các trường học, ta dễ nhận thấy các học sinh mà nhất là học sinh nam hút thuốc lá. Nhìn những gương mặt ngây thơ nhưng cầm điếu thuốc trên tay rất sành điệu phì phèo nhả khói mà không khỏi đau lòng. Chưa có số liệu chính thức số lượng học sinh hút thuốc lá, tuy nhiên đó không phải là các biệt mà là đa số và phổ biến.

- Trang phục, thời trang:

Ngoài những giờ lên lớp, khi vứt bỏ trang bộ đồng phục ở trường, các cô cậu học sinh thường ăn diện những bộ cánh rất quái dị. Không khó để bắt gặp các cô cậu học sinh với các kiểu ăn bận, kiểu tóc rất quái dị, không giống ai.

- Game bạo lực, sex tràn lan:

Khi trẻ thơ không có một môi trường giải trí lành mạnh, không có một không gian gần gủi với thiên nhiên thì việc sa vào các trò chơi điện tử đầy tính bạo lực là hiễn nhiên.

Những câu đối thoại đại loại như “Bắn chết nó đi, bắn, đồ ngu…” là minh họa sống động cho sự nghiện game và hình thành tính cách cộc cằn, thô bạo của học sinh hiện nay.

Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ, hay có khi vì một cái nhìn không thuận mắt, thế là học sinh lao vào đánh nhau, hành xử theo kiểu giang hồ, và thậm chí gây án mạng. Nhiều nguyên nhân khiến bạo lực học đường gia tăng được lý giải là do giáo dục gia đình không được quan tâm, học sinh thiếu kỹ năng sống, …. Và một nguyên nhân không thể không nhắc đến là ảnh hưởng xấu từ phim ảnh, từ những trò chơi bạo lực, trò chơi sex không lành mạnh phổ biến tràn lan trên internet đang hàng ngày, hàng giờ đầu độc tâm hồn non nớt, trẻ thơ của các em học sinh.

- Đánh nhau:

Theo báo Vietnamnet, trong năm học 2009 – 2010, cả nước xảy ra gần 1.600 vụ học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học (bình quân 5 vụ/ngày). Các trường phải khiển trách 881 em, cảnh cáo hơn 1.500 em và buộc thôi học có thời hạn tối đa một năm với hơn 700 em. Học sinh bây giờ rất dễ đánh nhau dù chỉ là những lý do không giống ai từ cái ánh mắt nhìn, từ cách ăn bận, từ những lý do … rất ư là trẻ con. Bây giờ không chỉ học sinh nam đánh nhau mà còn ở các cô nàng liễu yếu đào tơ. Không ít những trường hợp đã xảy ra án mạng, một số khác đánh nhau rồi quay clip tung lên mạng.

- Yêu sớm:

Tình trạng học sinh yêu sớm hiện nay gia tăng, đến mức báo động đỏ, có thể chỉ ra đây nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chính là do thói tò mò, học đòi, bắt chước của học sinh từ phim ảnh, sách báo, từ thực tế, thấy họ yêu mình cũng yêu cho biết. Một nguyên nhân nữa là sự lúng túng, hững hờ, thiếu quan tâm, can thiệp kịp thời của các bậc phụ huynh, thầy cô, nhà trường khi con em, học trò mình có dấu hiệu “sa lầy”.

Học sinh bây giờ có người yêu rất sớm, những cô cậu mới học lớp 6, lớp 7 đã đèo nhau ôm eo trên đường phố như chỗ không người. Thậm chí, không ít trẻ biết yêu từ rất sớm, cá biệt còn xảy ra ngay từ các lớp cuối bậc tiểu học.

Và còn rất nhiều những thói quen xấu khác đáng chê trách đang diễn ra bên ngoài xã hội của lứu tuổi học sinh.

2. Những điều đang xảy ra ở nhà trường:

- Nhồi nhét, chương trình học quá sức:

Mọi người bây giờ đã quá quen với lối dạy học nhồi nhét, nói đúng hơn là nhồi nhét một cách thô bạo. Những ai đã từng có con sẽ thấy xót xa khi những học sinh lớp 1 mà đeo chiếc cặp còn to hơn cái ông đi học … tiến sĩ. Có rất nhiều trường hợp bị rối loạn tâm lý vì bị ‘nhồi nhét’ kiến thức.

- Tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan:

Mặc dù đã có Quy định về quản lý dạy thêm, học thêm, tuy nhiên tình trạng này đã và đang diễn ra tràn lan, muôn hình vạn trạng.

Mọi người cũng quá quen với lối dạy thêm, dạy bớt, giữ bí quyết để câu khách học thêm ở nhà. Đến khi ra bài kiểm tra thì những ai học thêm mình thì điểm cao, còn lại thì điểm thấp bị khiển trách.

- Tình trạng quà cáp, đút lót giáo viên:

Các bậc phụ huynh cũng quá quen với việc phải quà cáp cho thầy cô giáo nhân những ngày lễ, tết, và cả những ngày không … là ngày gì cả.

Tôi có quen một người bạn có bố là Hiệu trưởng một trường tiểu học công lập, hàng ngày với quà cáp nào là gạo, muối, đường, bột ngọt, trái cây và cả tiền nữa mà cả gia đình từ cha mẹ đến vợ chồng anh em họ không bao giờ sử dụng hết.

Và cũng còn những điều tệ hại khác đang diễn ra trong chính ngôi trường thân yêu đang nuôi dạy các em học sinh hằng ngày.

3. Những điều đang xảy ra ở nhà:

- Cha mẹ mãi lo kiếm tiền

Cuộc sống ngày càng khó khăn, công việc ngày càng căng thẳng, đó là xu hướng chung của mỗi gia đình nhất là ở các đô thị lớn như TP.HCM, Hà Nội. Các bậc phụ huynh có mức thu nhập từ thấp đến trung bình thì mãi lo chạy miếng ăn hằng ngày, người có thu nhập khá hơn cũng không chịu thua, mãi chạy theo đồng tiền, bỏ mặc con cái cho xã hội.

Rất nhiều cảnh đời bất hạnh rồi thành bất cần đời xuất phát từ đây. Khi trẻ em thiếu sự chăm sóc trong tình yêu thương của gia đình, cha mẹ, chúng dễ bị cáu ghét, thô bạo, có em bị trầm cảm, dẫn đến những hành động nông nổi, phạm pháp.

- Khi con em trở thành con tin trong chính ngôi nhà của mình

Đây là một xu hướng cũng rất phổ biến trong xã hội, nhất là ở những thành phố lớn. Theo tác giả Nguyễn Hoàng trong bài viết Môi trường sống không để “trồng người” thì một môi trường sống rất thiếu không gian cho tuổi thơ. Để làm rõ hơn điều này. ta hãy xem xét một lĩnh vực còn ít được dề cập đến là văn hóa ở của người Việt đương đại. Về thăm các đô thị, các cộng đồng người Việt sinh sống tập trung, ta sẽ thấy ở đây trẻ em VN thường bị “nuôi nhốt”. Tuổi thơ của chúng phải lớn lên sau rất nhiều song sắt và các cánh cửa khóa chặt, cách biệt với thiên nhiên và cộng đồng. Chúng trở thành con tin tại chính ngôi nhà của mình.

- Sản phẩm nghe nhìn

Một nguyên nhân rất nguy hiểm và khó xử lý nhất có thể ảnh hưởng đến tính cách, tâm hồn, suy nghĩa của trẻ em hiện nay là những tác phẩm văn hóa như văn học, âm nhạc, …

Một môi trường văn học khô khan, không có sức hút, không tạo được cảm hứng cho người đọc. Một hiện thực văn học rất ít những tác phẩm định hướng nhân cách con người, không thu hút được người đọc ngay cả đối với những người yêu văn học huống hồ với các em nhỏ khi ngoài xã hội đầy rãy những cám dỗ.

Một nền âm nhạc lõa lồ, thô tục đang ngập tràn trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những bài hát với phong cách lai căng, lời lẽ rẻ tiền nhan nhãn trên các cửa hàng băng đĩa.

Hàng loạt những nhạc sĩ “bán cá” đang nổi đình nổi đám với những bài hát thật tục tỉu, thật sốc đang lên.

Một sự dễ dãi quá mức trong cung cách cảm thụ, thưởng thức âm nhạc vô hình chung tạo thói quen cho các em nhỏ bắt chước.

Gần đây dư luận đang quan tâm đến bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long với những chi tiết quá tệ hại, làm sai lệch suy lịch sử và văn hóa Việt trong công chúng là một minh chứng sống động cho những nhận xét này.

Một xã hội với những tác phẩm văn nghệ như thế đã vô tình xô đẩy các em đến con người tầm thường, không biết thế nào là chân – thiện – mỹ.

Các em không được giáo dục một cách bài bản về cái đẹp, cái hay, cái nhân, cái tình thì làm sao những cái đẹp, cái hay, cái nhân, cái tình ấy hình thành trong nhân cách.

Tất cả những điều này âm thầm biến các em thành những con người không biết cảm nhận cái hay, cái đẹp.

Hiện thực này rất quan trọng bởi vì nó âm thầm, chậm chạp giết chết nhân cách con người, giết chết cả một thế hệ.

Để nhận ra hết những hiện thực xã hội đã nêu trên đây, tạm gọi là “giặc văn hóa” không phải dễ, không phải ai cũng thấy hết những nguy hại tìm ẩn bên cạnh những sinh linh bé nhỏ, những tâm hồn trong trắng.

Một hiện thực xã hội nguy hiểm mà những người có trách nhiệm không ý thức được, không có một chính sách đúng đắn định hướng nhân cách trẻ thơ.

Trước tiên, mỗi người lớn hãy nhìn thẳng vào sự thật, hãy tỏ ra là người có trách nhiệm, hãy thay đổi những lối suy nghĩ tầm thường, phải trau dồi những kỹ năng thưởng thức cái hay cái đẹp, để làm tấm gương cho các em noi theo.

Mọi người hãy cùng lên án và bài bát những lối mòn tai hại, những thói quen xấu, những sản phẩm văn hóa rê riền, vô cùng tai hại để cứu lấy một thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của giống nòi.

  • Da Vàng

Hồi kết có hậu của bộ phim Lý Công Uẩn – Đường Tới Thành Thăng Long

Bộ phim Lý Công Uẩn – Đường Tới Thành Thăng Long – một bộ phim được tạo ra nhằm công chiếu vào dịp Đại Lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội như một lễ vật văn hóa cung tiến cha ông vấp phải sự phản đối gay gắt của dư luận.

Thực hiện tìm kiếm cụm từ “Lý Công Uẩn – Đường Tới Thành Thăng Long” trên Google trong vòng 0.21 giây cho ta 162.000 kết quả những thông tin có trong liên quan đến tên chính xác bộ phim này trong ngoặc kép. Đủ thấy bộ phim đã được sự chú ý đặc biệt của dư luận trong một thời gian ngắn vừa qua như thế nào.

Có thể nói sự kiện mang tính văn hóa lịch sử này bị phản đối một cách gay gắt của rất nhiều chuyên gia , cơ quan báo chí và cả những người ngoại đạo trong một thời gian ngắn, ngay khi bộ phim chưa được công chiếu được xem là một sự kiện chưa từng xảy ra từ trước đến nay.

Một đặc điểm nổi bật của sự phản đối này là tất cả các ý kiến, các dẫn chứng đều phê bình bộ phim, đồng thời ngược lại, có một sự im lặng đến lạ kỳ của những người trong cuộc từ nhà sản xuất đến những người tư vấn nội dung, thiết kế bối cảnh, trang phục. Rất hiếm hoi với một vài bài viết nhỏ ủng hộ bộ phim này.

Thực hư về một sự kiện lịch sử diễn ra trong một thời gian dài của dân tộc trong bối cảnh vừa bị ách đô hộ, xâm lăng phương Bắc đến hàng ngàn năm còn thiếu rất nhiều những luận chứng khoa học cần những nhà chuyên môn nghiên cứu, làm rõ.

Chỉ có điều đáng trách ở đây là bộ phim nói về một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc để phục vụ một sự kiện văn hóa trọng đại khác lại được sản xuất trên chính đất nước đã nghìn năm đô hộ nước ta, lại được thực hiện bởi đạo diễn, biên kịch và cả một số diễn viên chính là những hậu bối của những người mà hơn một nghìn năm trước đã đô hộ, chiếm đóng nước ta.

Trong số những ý kiến phản đối không ít những ý kiến góp ý chân thành mang tính xây dựng nhưng cũng có những ý kiến mang tính cực đoan chủ quan.

Phải nhìn nhận một cách công bằng rằng ý tưởng làm một bộ phim lịch sử về Lý Công Uẩn, quá trình dời đô từ Hoa Lư về thành Thăng Long phục vụ dịp Đại Lễ nghìn năm là một ý tưởng hay và sẽ tạo được sự đồng tình ủng hộ nếu nó được đầu tư nghiên cứu những tư liệu lịch sử chính xác, tận tâm và do chính bàn tay của những người con cháu Lạc Hồng làm nên.

Khi xảy ra những phê phán và tranh luận xung quanh bộ phim này, một vấn đề cần được làm rõ thêm là sự hiểu biết về lịch sử và hiệu quả tiếp nhận những thông tin lịch sử của đại đa số người dân Việt Nam nói chung còn rất nhiều hạn hẹp.

Cuộc tranh luận vô tình làm dấy lên tinh thần tự tôn dân tộc, thúc đẩy sự ham muốn tìm hiểu lịch sử đang tìm ẩn ở mỗi con người.

Từ đó có thể thấy không phải giới trẻ Việt Nam nói riêng, người Việt Nam nói chung không thích lịch sử mà là không biết tiếp cận những tư liệu lịch sử từ đâu, lấy nguồn cảm hứng nào để phát huy sự tìm tòi, hiểu biết và cảm thấy yêu thích lịch sử.

Cũng từ sự kiện bộ phim này, đã có nhiều cái tặc lưỡi, nhiều sự vỡ òa khi đọc được những tư liệu trong các bài tranh luận, phê bình của các chuyên gia.

Sự việc nào đến rồi cũng phải đến, bộ phim vừa được thông báo tạm ngưng phát sóng trong dịp Đại Lễ, mọi người phê bình nó thì thở phào nhẹ nhỏm. Cái đọng lại duy nhất cũng là cái hậu của bộ phim, nhờ nó mà đã thức tỉnh bao tâm hồn u mê, nhờ nó mà vô tình tạo nên làn sóng yêu thương lịch sử nước nhà, lịch sử rất đổi hào hùng của dân tộc.

Biết đâu được, từ nay sẽ không còn nghe những câu trách than đại loại như: Dân ta biết sử Tàu hơn sử ta. Đó phải chăng là hồi kết có hậu của bộ phim Lý Công Uẩn – Đường Tới Thành Thăng Long.

  • © Da Vàng

Trả Đường đến thành Thăng Long về đúng vị trí tầm phào của nó!

Trong những ngày này, bộ phim Đường đến thành Thăng Long nhận được không ít chỉ trích. Dù đã nhân danh là phim phục vụ đại lễ, bào chữa bằng yếu kém của hạ tầng điện ảnh nước nhà, thậm chí viện dẫn các khái niệm “giao thoa”, “tiếp biến văn hoá” nhưng bộ phim này vẫn khó có thể được công chúng chào đón như một sản phẩm cung tiến cha ông. Vì sao?

Diễn viên Trung Quốc tham gia đóng phim Đường tới thành Thăng Long. Ảnh: Phạm Xuân Hải

Người Việt đã bị nhiều dân tộc đô hộ, xâm lược. Với bản tính hiếu hoà, số đông người Việt ngay dưới thời bị cai trị, vẫn đón nhận điểm sáng văn minh của chính quốc gia cai trị mình để biến nó thành vốn liếng và di sản dân tộc. Chữ quốc ngữ, trường Viễn Đông Bác cổ, đại học Y khoa Đông dương, chiếc áo dài của hoạ sĩ Lê Phổ… là những minh hoạ điển hình cho sự cầu học không hề hẹp hòi của người Việt. Nhưng với văn hoá Trung Hoa, thì không được như thế! (more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: